THĂM LẠI BẾN BỜ TỰ DO BIDONG & GALANG

 
Gởi bài mới   Trả lời chủ đề nầy    Diễn Đàn MẪU TÂM -> 40 NĂM NGƯỜI VIỆT VIỄN XỨ
Xem chủ đề trước :: Xem chủ đề kế  
Tác giả Thông điệp
HongThatCong



Ngày tham gia: 20 2 2005
Bài gởi: 736
Đến từ: California

Bài gởiGởi bởi: Năm 4 21, 2005 1:38 am    Tiêu đề: THĂM LẠI BẾN BỜ TỰ DO BIDONG & GALANG

THĂM LẠI BẾN BỜ TỰ DO BIDONG & GALANG
thanh quảng sdb
Đánh dấu 30 năm đời Tỵ Nạn và 30 năm định cư nơi xứ người, Tổ chức “Văn Khố Thưyền Nhân” đã được Cộng đồng Người Việt Tự Do tại tiểu bang Victoria ủy thác việc tổ chức chưyến về thăm đảo Pulau Bidong Mã Lai và trại tỵ nạn Galang Nam Dương vào các ngày 19-26/3/2005. Lúc đầu việc tổ chức có vẻ cục bộ tại Úc Châu, nhưng sau đó chuyến đi trở thành chuyến đi quốc tế và lịch sử.
Số người tham dự gồm 145 người, từ khắp nơi trên thế giới như: Mỹ, Gia Nã Đại, Na Uy, Thụy Điển, Anh, Pháp; nhưng hơn một nửa phái đoàn là người Việt tại Úc Châu. Trong chuyến đi cũng có nhiều cơ quan truyền thông như: Ðài BBC Luân Đôn, Pháp, Á Châu, Little Saigon News của Mỹ, ABC của Úc. Đài truyền hình VNTV của Úc và Little Saigon của Hoa Kỳ. Báo chí có: Dân Việt, Thời Báo và Dân chúa Úc Châu; riêng báo tiếng Anh có ký gỉa Peter Wilmoth của tờ The Age tháp tùng. Báo The Age tại Melbourne ngày 17/4/2005 vừa qua có bài tường thuật về chuyến đi với tựa đề “Come Hell or High Water” dài 3 trang tóm kể nhiều câu chuyện vượt biển hãi hùng của nhiều thành viên tham dự trong chuyến đi.

Trong chuyến đi cũng có sự góp mặt của nhiều vị lãnh đạo tinh thần như Phật Giáo có Hoà Thượng Thích Giác Nhiên (Mỹ), Thượng Tọa Thích Quảng Ba (Úc) và khoảng 30 tăng ni Phật tử. Phía Công Giáo có bản thân chúng tôi linh Mục Anthony Nguyễn Hữu Quảng và ba Nữ Tu Carol, Joan và Maureen là những người Úc đã trải qua nhiều năm giúp những người tỵ nạn tại Bidong.
Chúng tôi tới Singapore vào khoảng 11 giờ đêm và về tới khách sạn là nửa đêm ngày 19/3, nhanh chóng ổn định phòng và đi ngủ để sáng mai hành trình về Terrengganu bằng xe buýt. Trên tuyến đường dài chúng tôi trao đổi tâm tình, cuộc vượt thoát của mỗi người sen kẽ những bài ca và chuyện vui.
Ðiều làm chúng tôi rất khâm phục là trường hợp của giáo sư Brigitte (đã đến Bidong từ năm 1982 để dậy tiếng Anh cho người tỵ nạn) cho biết, bà đi chuyến này nhằm mục đích gặp lại một số người tỵ nạn xưa và mong tìm hiểu xem họ đã hội nhập ra sao? Họ đã quảng bá tinh thần Việt tộc thế nào trong môi trường đất nước họ đang sinh sống? Bà đã chia sẻ thời gian làm việc trên đảo, đó là lần đầu tiên bà xa nhà dịp Giáng Sinh năm 1982, con bà đã từ Stockhom đến dự lễ với bà và các thuyền nhân. Hôm nay, bà trở lại đã đem theo một người cháu trai tên Bjorn, mong ước cậu bé tai nghe mắt thấy về cảnh sống của trại tỵ nạn và những người tỵ nạn mà cậu hằng được bà nội nhắc tới hòai hỉ trong cuộc sống.
Ðiều làm chúng tôi khâm phục nữa là ba nữ tu dòng Mercy tại Melbourne là sơ Joan, Maureen và Carroll, cả ba đã xả thân làm việc thiện nguyện cho người tỵ nạn trên đảo Bidong. Các sơ đã mở trường dậy Anh Văn và các môn học khác cho giới trẻ, công tác cho các bà mẹ và đồng hành với người tỵ nạn trong cuộc sống chật vật thiếu thốn tại đảo Bidong cho tới ngày trại bị đóng cửa. Khi trại bị đóng cửa, sẵn tâm hồn truyền giáo, các sơ lại đi giúp các trại tỵ nạn tại Phi Châu và tại Miến Ðiện... Bây giờ các sơ đã về hưu, tuổi gìa sức yếu, nhưng vẫn hành trình cùng phái đòan về lại hai trại tỵ nạn để sống lại những ngày cam khổ nhưng ắp đầy tình người và tình Chúa dệt nên những thảm vàng trong cuộc đời của các sơ...
Ngày thứ Hai 21/3 chúng tôi lên tầu ra biển Ðông tới Bidong. Bidong vẫn là một đảo hoang, sau khi những người Việt tỵ nạn cuối cùng được đưa về nước hay chuyển trại. Bidong dần trở thành rừng hoang với một vài di tích của nền nhà, của vài cột kèo xụp đổ hay các bồn nước của một trại tỵ nạn có thời đã chứa 30,000 người và đã gần 300 ngàn người tỵ nạn sinh sống...
Duy chỉ có ngọn đồi Tôn giáo là các di tích như đài Năm châu, đài Ðức Mẹ hoặc tượng đài Phật bà Quan âm, chùa, nhà thờ và thánh thất Cao Ðài còn hình thù mặc dầu xiêu vẹo, mái tôn mục và đồ đạc đổ nát, các tượng đều bị đập phá hay chặt đầu, đập gẫy tay vẫn còn tồn tại với rừng rậm và sự hủy hoại của thời gian...
Ðây là chuyến đi lịch sử quốc tế vì vậy chính quyền Mã Lai đã cho dọn dẹp khai quang những con đường lên đồi tôn giáo hay xây lại cầu tầu v.v...
Tại Mã Lai cũng như ở Nam Dương phái đoàn đã xây được hai tượng đài tưởng niệm với lời tri ân được khắc trên đá: “Với niềm tri ân cảm tạ những nỗ lực của Liên Hiệp Quốc, của Hội Hồng Thập Tự, của chính phủ và nhân dân Mã Lai/Nam Dương cùng nhiều tổ chức quốc tế khác đã tận lực giúp đỡ người Việt tỵ nạn...” (Cộng đồng người Việt Hải ngoại - 2005).
Cũng trên đài tưởng niệm một bên với những lời: “Tưởng nhớ tới hàng trăm ngàn người Việt Nam đã bỏ mình trên bước đường tìm Tự do (1975 - 1996). Họ đã chết vì đói khát, vì bị hãm hiếp, vì kiệt sức hay vì bất cứ lý do nào khác... Họ được nhớ tới qua các tâm tình cầu nguyện và nhớ thương... Sự hy sinh của họ sẽ trường cửu.” (Cộng đồng người Việt Hải ngoại - 2005).
Hai bia đá tưởng niệm đó nói lên ý nghĩa và mục đích của chuyến đi tìm về lại bến bờ Tự do Bidong và Galang.

BIDONG, HẢI ÐẢO DÌU HƯU
Ngưòoi tỵ nạn xưa thường nói Bidong, bi đát hay tình Bidong có list (danh sách) thì dông... Bản thân chúng tôi không có ở Bidong, nhưng khi tới hải đảo này chúng tôi cảm nghiệm những câu nói trên đúng. Bidong that bi đát mà chúng tôi có thể sánh ví ở trại Galang như ở khách sạn 5 sao so với ở Bidong.
Nhưng hôm nay tại Bidong, chúng tôi được khoản đãi những món ăn thịnh soạn do công ty du lịch bày dọn ngay trên hòn đảo hoang vu này, công sức của công ty mướn người phá rừng, bạt cỏ, dựng lều, di chuyển bàn ghế và bày dọn nhiều đồ ăn nước uống thật làm chúng tôi cảm động. Tuy thế mọi người ăn uống trong một tâm trạng hồi nhớ những ngày xa xưa của một thời trong thân phận tỵ nạn đói khổ, thiếu thốn đủ thứ.
Sau bữa ăn trưa tất cả đã lên đồi Tôn giáo, bao quanh đài tường niệm để làm nghi lễ tưởng niệm và khánh thành đài tưởng niệm trước khi hai tôn giáo lớn là Phật giáo và Công giáo di chuyển về chùa và Nhà thờ để tham dự nghi thức riêng của từng tôn giáo.
Sau đó mỗi người nhanh chóng đi thăm lại nơi chốn năm xưa mình đã sống, các sơ Carrol, Maureen và Joan tìm lại được dấu vết của căn nhà Cao ủy và trường học xiêu đổ vẫn còn đó... Còn hầu hết các nhà, chòi của dân chúng đã bị san băng với rừng cây và cỏ mọc bao phủ. Khoảng 5 giờ chiều chúng tôi xuống lại tầu về lại Merang.
Trên chuyến về lại từ hải đảo Bidong, cá nhân chúng tôi thật cảm động khi vừa xuống tầu, không còn chỗ ngồi, chúng tôi đang đứng, thì một bà cụ dịu dàng nhích chỗ mời chúng tôi ngồi. Bà chia sẻ: “Khi thấy linh mục chia sẻ lúc khánh thành đài tưởng niệm cũng như hành lễ, Diệu Ðức (tên của bà, bà là một Phật tử sùng đạo đã qui y), mộ mến, ước muốn được gặp linh mục, nhưng vì đông người, đặc biệt giáo dân bu quanh linh mục nên không có dịp! may sao lại có cơ duyên gặp linh mục ở đây! Thật đúng như tôi khấn nguyện.” Tôi chào bà và sau vài câu trao đổi được biết bà từ Cali... Bà chia sẻ bà quen biết một hai thiền sư, và dù là Phật tử, nhưng bà ước nguyện có được một người con nuôi làm linh mục... Nét từ tâm của bà như một người mẹ mà tôi đã mất năm lên 13 cuốn hút tôi, rất tự nhiên tôi thốt lên “Vậy má hãy coi con như con đi. Má cầu kinh cho con hàng ngày nhé!” Từ giây phút nhân duyên trên biển đông đó tôi có một người mẹ Phật giáo cầu kinh cho chúng tôi là một linh mục và cũng từ ngày đó trong tâm tư dâng hiến đời linh mục của chúng tôi có thêm tâm tình cầu nguyện cho một người mẹ Phật giáo!”
Ðêm 21/3 cũng là đêm mà chính phủ tiểu bang Terrengganu khoản đãi phái đoàn. Họ đã dàn dựng sân khấu và bày dọn bàn ăn rất trịnh trọng tại khu du lịch nơi phái đoàn nghỉ qua đêm. Trong bài diển văn chào mừng, ông thủ hiến đã trình bày chương trình và kế hoạch được chính phủ Mã Lai châu phê là gìn giữ đảo Bidong như là một di sản của những người Việt tỵ nạn và mong ước sẽ được phát triển để đón tiếp nhiều người Việt Nam trở về thăm lại chốn xưa của đầu đời tỵ nạn.
Trong bữa ăn có đòan Văn nghệ gồm ban vũ và các ca sĩ Mã Lai trình diễn... Ðáp lại những thịnh tình trên, phái đoàn đã gửi tặng tới các viên chức trong chính quyền Tiểu bang Terrengganu những món qùa kỷ niệm là một tấm kiếng để bàn được ghi khắc tâm tình biết ơn của Phái đoàn trở về lai Bidong Galang quốc tế năm 2005.

Ngày 22/3 gĩa từ Terrengganu bằng một cuộc thăm viếng các nghĩa trang nơi có những ngôi mộ tập thể của 173 người trong chuyến tầu MH 3012 bị đắm ngày 30/4/1979 hoặc những ngôi mộ 73, 54 hoặc 43 người... có nhiều ngôi mộ vô danh v.v... Nhiều ngôi mộ hoang tàn, những tấm bia bị bể v.v... Chúng tôi đứng trước các nấm mộ ấy cầu nguyện cho họ và trong ánh sáng của tuần thánh và lễ Phục sinh, chúng tôi tự nghĩ, họ cũng như chúng tôi ra đi tìm tự do, nhưng họ kém may lành... họ đã chết cách tất tưởi và bi thương!... Nhưng nay họ đã đạt tới sự tự do viên miễn của nước trời, của sự sống trường cửu vĩnh hằng mà không ai có thể cướp đi được nữa! Còn chúng ta những người đang nếm cảm tự do trên các phần đất khác nhau, nhưng tất cả chúng ta cũng đang hướng về một sự tự do viên miễn mà Ðức Kitô Cứu Chúa mang lại.
Chúng tôi qua đêm 23/3 tại thành phố Melacca và hôm sau lên đường trở về Singapore. Trong suốt 4 ngày hành trình bằng xe búyt qua nhiều địa danh, tỉnh lỵ hay thôn quê của đất nước Mã Lai cho chúng tôi một cái nhìn về một đất nước Mã Lai phát triển không chỉ ở thành phố mà ngay tại thôn quê đi nữa, chính phủ vẫn lo cho dân có được một nền giáo dục căn bản, nhà cửa ngăn nắp, khi nhìn thấy nhiều khu chung cư thật tươm tất... Lác đác còn lại ít nhà tôn vách gỗ, tuy thế đa số các gia đình dù thành thị hay thôn quê đều có xe hơi... làm dấy lên trong chúng tôi một sự thèm mong cho đất nước Việt Nam thân yêu của chúng ta ít ra cũng được như vậy.
GALANG CỬA NGÕ TÌNH NGƯỜI
Người xưa thường hay nhắc câu: “Galang tình người” nhưng cũng nói “Galang tình xù”; cũng như những người ở trại Songkla hay nói “Tình Songkla lên xe ca sẽ hết!”. Nhưng lần này trở về Glang sau 25 năm trong tâm lòng chúng tôi dấy lên nhiều cảm xúc chân tình...
Ngày 24/3 chúng tôi xuống tầu qua Batam để lấy xe buýt về Galang. Chính phủ Nam Dương đã đón tiếp phái đoàn thật trọng thể. Tại cầu tầu 10 người VIP trong oó có bản thân chúng tôi được choàng vòng hoa và mỗi người còn lại được tặng một bông hoa... Trên xe buýt tại ghế mỗi người nhận một túi in hình trại Galang, trong túi có một chiếc áo thun có in hình Galang, một cuốn sách giới thiệu tiểu bang Batam và một cuốn lịch sử nho nhỏ về trại Galang. Mấy năm gần đây chính phủ Nam Dương đã xây 5 chiếc cầu nối 6 đảo lại với nhau, nên sau gần 2 tiếng xe búyt chúng tôi đã tới đảo Galang.
Con đường Galang xưa vẫn còn đó phoảng phất đây kia tấm bảng hiệu “Chùa Quan Âm”, “Nhà thờ Galang 1”, “khu điều hành trại” v.v... vẫn còn đó nhưng chính nhà thờ và chùa đã bị xập; trại Galang 1 hầu như không còn dấu vết ngoại trừ là rừng cây rậm rạp... Trại Galang 2 được bảo qủan: nhà thờ Mông Triệu và Chùa Kim Quang, nhà thương và Trung tâm sinh hoạt Thanh Thiếu Niên vẫn còn được bảo tồn kỹ lưỡng. Chúng tôi thật cảm động khi đặt chân lên trại, chính quyền địa phương và báo giới đã tề tựu phỏng vấn và chụp hình lia lịa phái đoàn... Chúng tôi được đưa vào Youth Centre nơi được trang trí hoa kiểng thật trang trọng và nghi thức đón tiếp chúng tôi do ông Ðại Tá, đại diện chính phủ từ thủ đô Jakarta tới chào đón phái đoàn với nghi thức cổ truyền của người Nam Dương là trao cho các vị khách qúi một lá trầu...

Ông Ðại tá nói chính phủ Nam Dương tỏ lòng kính phục qúi vị, xưa kia qúi vị là những kẻ nhập cư bất hợp pháp trên đất nước Nam Dương; nay qúi vị là những công dân của đệ tam quốc gia, qúi vị thành công trong thương trường và học vấn, quí vị không quên những ngày đầu đời tỵ nạn để trở về cám ơn Liên Hiệp Quốc và đất nước chúng tôi... Sau đó là tiệc khoản đãi thật thịnh soạn với những trái dừa tươi ngọt lịm và đồ biển cùng thịt gà, thịt bò thịnh soạn...
Sau cơm trưa vì là ngày thứ Năm Tuần Thánh chúng tôi đã dâng lễ trong thánh đường Ðức Mẹ Mông Triệu với ý nghĩa Chúa rửa chân cho các môn sinh của Ngài và lập Bí Tích Thánh Thể, nhắc nhớ chúng tôi nhiều bài học phục vụ và trao hiến... Sau đó chúng tôi lên xe ra Galang III, đây là nghĩa trang, nơi định cư vĩnh viễn của nhiều người bỏ mình trong thời gian đợi chờ được đi định cư tại một quốc gia khác...
Trong xe chúng tôi có một chị từ Brisbane có chồng chết chôn tại đây. Chị rất xúc động, khóc nấc tiếc thương cho chồng... Tất cả chúng tôi quy tụ lại quanh nấm mồ của chồng chị để hát và cầu kinh cho chồng chị...
Khi ba xe búyt tiến lên Chùa Galang, một ngôi chùa lớn của vị thiền sư Ðài Loan xây dựng; một số anh chị em chúng tôi đã gặp anh Bun, người Indô nói được tiếng Việt, hàn huyên và xin tài xế đưa chúng tôi lên nhà thờ Galang I, nơi đây chỉ còn đài Ðức Mẹ và nền nhà thờ. Trên gian cung thánh xưa, nay mới được dựng một cái chòi như là nơi để BBQ hay họp mặt. Cạnh đó là bồn nước vẫn còn và căn nhà nơi xưa cha Dominici, một vị linh mục mang tên Việt Nam Ðỗ Minh Trí, dù là người Ý, nhưng Ngài có tâm hồn Việt Nam và ước vọng Ngài được gọi là người Việt Nam, sống và chết như người Việt Nam. Ngài đã từng làm việc tại trại Galang trong những ngày đầu, luôn bênh vực người tỵ nạn khỏi cảnh áp bức, đánh đập của cảnh sát Inđô cho tới năm khoảng 1987 Ngài bị Inđô trục xuất khỏi Galang. Chúng tôi đã qui tụ đọc kinh cầu nguyện cho Ngài. Chúng tôi đã nhắc nhớ tới câu nói thời danh của Ngài: “Tôi khâm phục những người người Việt đã có can đảm liều lĩnh vượt trùng khơi bao la, đánh đổi mạng sống để kiếm tìm tự do; nhưng tôi không hiếu được tại sao họ lại không có đủ can đảm để vượt eo biển lòng mình để thứ tha và đùm bọc lẫn nhau...”. Xưa kia lúc ở Galang, bản thân chúng tôi còn là chủng sinh, nay trở về với tư cách là một linh mục, nên chúng tôi đã chúc lành cho mọi người đang hiện diện cùng với chúng tôi trên đồi nhà thờ Galang 1.
Trên đưòng trở về Batam, xe chúng tôi được may mắn dưới sự hướng dẫn của anh Bun chạy ra cầu tầu để nhớ lại những kỷ niệm của ngày rời đảo Galang xuống tầu đi Singapore để đi định cư...
Tối nay tại Batam, một lần nữa chính phủ Nam Dương khỏan đãi phái đoàn thật trọng thể tại một Resort ở Batam. Nơi đây chính quyền đại diện tặng qùa cho một số nhân vật trong phái đoàn và phái đoàn cũng tặng những kỷ vật cho các đại diện của chính quyền và ban tổ chức chuyến đi. Một kỷ niệm lớn đó là tấm biển ngữ lớn đề “Welcome back to Galang” đã được mọi người lên ký vào đó và theo lời của ông giám đốc Lien Hiệp Quốc Tại Nam Dương thì tấm biển ngữ đó sẽ được để vào Viện Bảo Tàng để đánh dấu chuyến về thăm quốc tế của Ngưới Việt Hải ngoại năm 2005 này.
Ðúng 10 giờ đêm chúng tôi rời Resort để ra cầu tầu trở lại Singapore. Tới khách sạn là 12 giờ đêm. Sáng sớm mai những người từ các quốc gia khác ngoại trừ Úc sẽ gĩa từ phái đoàn để về nguyên quán; còn những người từ Úc như chúng tôi còn một ngày tham quan Singapore, đi mua sắm trước khi về lại Úc vào ngày 26/3/2005.

TÂM TÌNH DỐC QUYẾT
Chuyến đi đã để lại trong tâm lòng chúng tôi những tâm tình tạ ơn Chúa, tạ ơn người gồm biết bao người đã thương mến quảng đại vô vị lợi cứu giúp chúng ta, những người Việt tỵ nạn... Nhưng một thành qủa mà những người tham dự chia sẻ là mỗi người dù là vợ chồng, con cái khi trở về thăm lại Bidong Galang, đã cảm thương cho những người tỵ nạn là chính chồng, vợ hay con cái mình để từ đó quyết tâm sống yêu thương, cảm thông với nhau hơn và vươn lên hầu xứng đáng với những hồng ân đã lãnh nhận từ Chúa và từ tha nhân... Nhiều người quyết tâm sẽ đưa gia đình về thăm lại trại tỵ nạn để những người thân yêu trong gia đình cũng đạt được những cảm nghiệm như những người vừa tham dự chuyến đi lịch sử “Về thăm lại bến bờ Tự do Bidong & Glang”.

More Pictures: www.vnbp.org
Về Đầu Trang
Xem lý lịch thành viên Gởi tin nhắn
parisien



Ngày tham gia: 08 1 2008
Bài gởi: 29
Đến từ: France

Bài gởiGởi bởi: Ba 1 08, 2008 10:29 pm    Tiêu đề: Nho*' qua' Galang...

Xem lai. hinh` anh~ Galang lam` toi nho' toi' nhung~ thuyen` nhan da~ yen nghi~ tai. nghia~ trang Galang3 tren buoc' duong` di tim` tu*. do. Gan` 6 nam song' o~ Galang2 ,va` 1 nam Galang1, voi' niem` vui rat' it', ma` buon` thi` nhieu`. Nhung toi khong bao gio` quen duoc. va` rat' mong co' co* hoi. ve` tham lai. dao~ Galang thuo~ nao`.
Về Đầu Trang
Xem lý lịch thành viên Gởi tin nhắn
Trình bày bài viết theo thời gian:   
Gởi bài mới   Trả lời chủ đề nầy    Diễn Đàn MẪU TÂM -> 40 NĂM NGƯỜI VIỆT VIỄN XỨ Thời gian được tính theo giờ Việt Nam PST (U.S./Canada)
Trang 1 trong tổng số 1 trang

 
Chuyển đến 
Bạn không có quyền gởi bài viết
Bạn không có quyền trả lời bài viết
Bạn không có quyền sửa chữa bài viết của bạn
Bạn không có quyền xóa bài viết của bạn
Bạn không có quyền tham gia bầu chọn
|   Register   |   Tin nhắn riêng   |   Đăng Nhập

Powered by -php_BB- Copyright © mautam.net, 2005. All Rights Reserved