Hồi Ký Vượt Biên Đường Bộ Tìm Tự Do
Chuyển đến trang Trang trước  1, 2, 3 ... 11, 12, 13
 
Gởi bài mới   Trả lời chủ đề nầy    Diễn Đàn MẪU TÂM -> 40 NĂM NGƯỜI VIỆT VIỄN XỨ
Xem chủ đề trước :: Xem chủ đề kế  
Tác giả Thông điệp
HongThatCong



Ngày tham gia: 20 2 2005
Bài gởi: 736
Đến từ: California

Bài gởiGởi bởi: Ba 6 19, 2007 12:44 am    Tiêu đề:

Chương XI: Phần Thư Tín Của Những Người Tị Nạn Đường Thủy


Lời nói đầu: Một trong những công tác giúp đỡ người tị nạn của chúng tôi là viết thư an ủi để nâng đỡ tinh thần và giúp đỡ vật chất cho người tị nạn Việt Nam tại các trại tị nạn thuộc vùng Đông Nam Á. Đồng thời chúng tôi gửi sách báo cho họ đọc giải trí. Trong nhiều năm qua, chúng tôi đã nhận được rất nhiều thư của các đồng bào tị nạn. Sau đây xin đan cử một số thư của các người tị nạn đường thủy.

Chúng tôi không rõ đây là các trường hợp thật hay không. Xin để tuỳ quý vị độc giả phân biện.


1. Thư của Ông Đàm Quang viết từ trại Sikiew, Thái Lan.

Ông Quang là người tị nạn đường thủy.

Sikiew ngày 2 tháng 9, năm 1994.

Kính gởi bà Kim Hà,

Chắc có lẽ bà ngạc nhiên khi đọc lá thư này của một người không quen biết. Để bà hiểu rõ nguyên nhân vì sao lại có lá thư này gửi đến cho bà thì trước tiên xin bà cho tôi tự giới thiệu: Tôi là một trong những độc giả được đọc tác phẩm QUA CƠN BÃO DỮ do bà viết. Qua đó, tôi đã hiểu rõ cuộc đời thăng trầm của bà.

Đầu thư này tôi cũng xin chúc bà và gia đình luôn được may mắn trong cuộc sống và hưởng nhiều hồng ân Thiên Chúa. Sở dĩ hôm nay tôi viết lá thư này cho bà là bởi vì hoàn cảnh của bà và tôi có cái gì đó trùng hợp ngẫu nhiên bà ạ.

Đối với bà thì Thượng Đế đã ban cho bà một khối óc hơn tôi, nên bà có thể bộc lộ nó ra qua tác phẩm để có thể nguôi ngoai đi chút buồn trong tâm khảm bà. Còn phần tôi, không được diễm phúc đó cho nên tôi cứ cất giữ nó mãi trong lòng suốt mười chín năm qua.

Cho đến hôm nay, Thượng Đế đã sắp đặt cho tôi được gặp bà qua tác phẩm, để bộc lộ tất cả những gì trầm thống nhất của đời tôi suốt mười mấy năm qua. Tôi nghĩ rằng bà sẽ hiểu tôi nhiều nhất bởi vì tôi và bà có chung một hoàn cảnh, phải vậy không thưa bà?

Qua đây bà cho phép tôi được nói lên tất cả những gì mà suốt mười chín năm qua tôi không được nói, hay nói đúng hơn là chưa gặp đúng đối tượng để tâm sự về đời mình để cho tôi vơi đi nỗi uất ức.

Thưa bà, tôi là một Hoa Kiều sống trên đất nước Việt Nam. Sau năm 1975, gia đình tôi bị người Cộng Sản đánh bằng chiến dịch chống tư sản mại bản. Thế là cha tôi chết, mẹ tôi điên loạn. Còn tôi và vợ tôi sống lây lất qua ngày cho đến năm 1989, tôi và gia đình đi vượt biên. Trên đường đi, vợ tôi bị hải tặc hãm hiếp và nàng đã chết, để lại cho tôi hai đứa con trên tàu. Trong lúc đó thì tàu chết máy, hết nước và hết lương thực.

Suốt ba mươi ngày trên biển, đứa con đầu lòng của tôi lại qua đời trên biển cả. Tôi lại phải ngậm ngùi gửi bé lại trong lòng đại dương. Kế đó, niềm duy nhất an ủi cho đời tôi là bé Trúc Lan. Nhưng nó cũng lại bỏ tôi sau hai ngày tàu bị đụng vào đá ngầm. Tàu bể, tôi và cháu bám víu vào tấm gỗ, nhưng vì đói và lạnh trên đại dương, cháu lại bỏ tôi để đi theo mẹ nó.

Thưa bà, đời tôi là thế đấy! Cái giá đi tìm tự do của tôi phải trả là vậy đó! Nhưng hiện tại tôi là người mà UNHCR ( Cao Ủy Liên Hiệp Quốc) coi là di dân kinh tế.

Tôi thiết nghĩ bà còn diễm phúc hơn tôi nhiều lắm vì dù sao bà cũng còn một mái ấm gia đình trên phần đất tự do. Còn tôi thì đơn phương một mình, nơi xứ lạ quê người mà nhất là trong trại cấm.

Cuộc sống của tôi hiện tại không biết sẽ ra sao? Nếu như họ cưỡng bách về Việt Nam. Tôi cũng mong bà và hội Văn Sĩ Hải Ngoại lên tiếng cứu giúp chúng tôi trong trại tù, có thể nó cũng giống như trại tập trung của Hít le (Hitler) dành cho dân Do Thái trong thời kỳ đệ nhị thế chiến.

Lòng muốn nói nhiều vô biên, nhưng ngôn từ không sao kể hết. Vả lại tôi không phải nhà văn như bà. Nên đôi khi cố nói lên tất cả nhưng lại bị tắt nghẽn. Mong bà hiểu cho.

Cuối thư, tôi chúc bà và gia đình luôn được sự cứu giúp của Mẹ Maria. Trong thư có điều gì bất ý xin bà niệm tình bỏ qua cho, vì tôi là người Hoa nên tiếng Việt không được thạo lắm.

Kính thư,

Đàm Quang PST 4468,
House # B4, Sikiew Camp,
P.O. Box 1302, Bangkok, Thailand 10501


2. Thư của Bà Lê thị Vân viết từ trại Sikiew, ở Thái Lan.

Sikiew ngày 19, tháng 8, năm 1994.

Kính bà Kim Hà,

Tôi được biết bà qua việc đọc quyển sách ”Qua Cơn Bão Dữ”. Tôi rất lấy làm đau xót cho gia đình của bà. Nhưng cũng rất may mắn là gia đình bà đã được đến nơi an toàn, mặc dù chuyến đi rất là gian nan và nguy hiểm.

Thưa thật với bà, gia đình tội cũng rất là vô phước và bất hạnh. Tôi cũng đang mang một nỗi khổ như gia đình bà ngày trước. Gia đình tôi rời Việt Nam ngày 17 tháng 7, năm 1989 tại Vĩnh Long.

Khi chúng tôi đi được hai ngày trên biển thì con tàu của chúng tôi bị hỏng máy và lênh đênh hai ngày, một đêm trên biển. Tôi còn nhớ vào khoảng bảy giờ tối của ngày thứ hai thì từ xa có một con tàu của bọn hải tặc Thái Lan, đi ngay vào phía con tàu của chúng tôi.

Tôi rất hoảng sợ khi thấy những tên hải tặc Thái. Người thì trọc đầu, người thì bịt mặt và xâm mình, da của họ không còn một chỗ trống. Da họ đen như cục than. Bọn hải tặc xông lên tàu của chúng tôi. Người thì cầm búa, người thì chỉa súng vào tất cả những người trong tàu.

Sau đó, họ xông vào phía trong lục xét và cướp hết tất cả vòng vàng, kể cả đồng hồ và các quần áo có giá. Việc khám xét cũng kinh tởm như tình tiết trong tác phẩm của bà. Thưa bà, dù tôi không muốn kể lại việc dã man ấy, thì bà cũng đã biết nó như thế nào rồi. Khi khám xét xong, họ lấy búa đánh vào đầu và cổ của những người đàn ông và vứt nạn nhân xuống biển.

Sau đó, bọn hải tặc bắt đầu hãm hiếp tập thể, rồi họ thay qua đổi lại những nạn nhân. Chị em tôi cũng bị làm nhục. Chồng của tôi không thể chịu nổi tình cảnh ấy nên tỏ ý chống cự. Không may là chồng tôi đã bị bọn ấy dánh vào đầu bằng những qủa búa tạ thật lớn. Khi anh ấy bất tỉnh thì chúng vứt anh ấy xuống biển cả.

Sau khi hãm hiếp xong, bọn hải tặc bắt vài chị em gái đẹp nhất trong tàu của tôi đi sang tàu của họ để tiếp tục hành động. Lúc ấy, tôi nghĩ là bọn họ bỏ đi, nhưng không ngờ lại có tai họa khác đến với những đứa bé sơ sinh. Bọn hải tặc cho tàu của họ đâm vào con tàu bé nhỏ của chúng tôi.

Lập tức, tàu của chúng tôi bị vỡ ra từng mảnh nên chỉ còn là những tấm ván bể. Tôi và hai con tôi bám được vào một mảnh ván to khoảng hơn một thước có đầu đinh nhọn. Kể từ phút đó, tôi không gặp loại người chồng của tôi nữa.

Lúc đó, tất cả những người cùng tàu đều thất lạc, người thì bám vào những thùng nhựa, nguời thì bám vào những tấm ván như mẹ con tôi. Vào khoảng nửa đêm ấy, chúng tôi may mắn được một con tàu khác đến cứu vớt. Tàu này cũng khá lớn, vị thuyền trưởng là một người Hoa có lòng nhân đạo. Khi lên tàu thì chỉ còn lại có mười một người trong số hai muơi ba người đi lúc đầu.

Khi ấy, đứa con nhỏ của tôi ngất xỉu vì đói lạnh. Khi được lên tàu, người trên tàu cho chúng tôi quần áo để thay cho ấm áp và cho ăn cháo cá. Chúng tôi ăn rất ngon vì đã nhịn đói hơn một ngày đường. Chúng tôi ở trên tàu cho đến sáng thì vị thuyền trưởng cho chúng tôi biết là họ sẽ đưa chúng tôi nhập trại.

Vào 9:00 giờ sáng, chúng tôi được đưa vào trại ”Lon Muôn”. Chúng tôi ở trong trại đó khoảng hai mươi ngày dài đằng đẳng. Chúng tôi đã bị làm nhục nhiều lần vì lính ở đó rất ác độc, không kém gì bọn hải tặc kia.

Mỗi ngày, chúng bắt chúng tôi nộp cho chúng mỗi đầu người là một trăm con ruồi. Nếu ai không nộp đủ thì sẽ ăn số đó. Buổi trưa vào lúc nắng gắt nhất thì chúng bắt mọi người tị nạn ra phơi nắng ở sân cờ. Mỗi khi chúng say rượu thì chúng bắt đàn ông chui qua háng của chúng. Khi làm nhục người tị nạn như vậy thì chúng đứng chàng hảng ra và cười khả ố như một hôn quân đang thích chí vì hành hạ người khác.

Sau hai mươi ngày, chúng tôi được chuyển tới trại Panatnikhom. Khi lên trại này, tôi rất mừng vì ngỡ là sẽ được đi định cư. Nhưng không ngờ lại phải trải qua cuộc thanh lọc rất gắt gao. Thời gian vừa nhập trại tôi rất đau buồn vì mất chồng, lại phải gánh vác hai đứa con nhỏ nơi xứ lạ quê người, nên tôi ngã bệnh nặng.

Sau nhờ sự che chở của Chúa và Mẹ Maria nên tôi được tai qua nạn khỏi. Tôi được thanh lọc lần đầu vào ngày 9 tháng 9, năm 1990. Thời gian chờ đợi thật lâu, đến 27 tháng 4 năm 1992 thì chúng tôi đã được chuyển đến trại Sikiew này và bị rớt thanh lọc ngày 30 tháng 4 năm 1992.

Trong khi chờ đợi tái xét ở trại này, gia đình tôi lâm vào hoàn cảnh khó khăn. Trại này rất là khó, an ninh chặt chẽ, không được mua gánh bán bưng như ở trại Panatnikhom, nên tôi không thể làm gì để nuôi con được.

Hàng ngày tôi phải thức thật sớm để đi giặt đồ, gánh nước cho những người có thân nhân ở nước ngoài để kiếm tiền nuôi con. Thời gian sau này, có lẽ vì làm việc qúa sức nên tôi không thể nuôi con nổi. Ở đây, mỗi tuần lễ, Cao Ủy Tị Nạn Liên Hiệp Quốc chỉ phát cho mỗi đầu người là 100 grams cá, 100 grams gà và 500 grams rau gồm đu đủ và bí đỏ.

Ngày này qua ngày khác, chúng tôi ăn uống trong sự thiếu thốn, lại và sống khắc khoải và buồn đau trong sự chờ đợi bị trả về quê hương. Tôi nhìn hai con nhỏ mà đứt ruột đoạn gan. Hôm nay, tôi được biết bà nên tôi vội vã viết thư này để cầu xin bà giúp đỡ và thương xót cho hoàn cảnh của gia đình tôi trong lúc đang gặp nhiều khó khăn ở trại tị nạn. Xin thành thật ghi ơn bà và kính chúc bà được nhiều ơn lành của Thiên Chúa.

Kính thư,

Lê thị Vân
PST 1175, Sikiew Camp,
Thai Red Cross Society
P.O. Box 1302, Bangkok, 10501.


3. Thư của bà Quách thị Huyên, viết từ trại Sikiew ở Thái Lan.

Sikiew ngày 5 tháng 8 năm 1994.

Chị Kim Hà kính mến,

Em xin cáo lỗi đã làm phiền chị. Đầu thư em kính chúc gia đình chị được an khang và hạnh phúc.

Chị Kim Hà mến! Em là một trong những đọc giả của chị. Lần đầu tiên trong trại, em đọc được tác phẩm QUA CƠN BÃO DỮ của chị, em cảm động vô cùng không sao cầm được nước mắt và thương cho hoàn cảnh của chị cũng như gia đình em hiện nay. Thầm cảm phục gia đình chị đã hết sức can đảm, vượt qua mọi khó khăn hiểm trở, đánh đổi mạng sống để có ngày hôm nay.

Báo chí ở đây rất hiếm hoi vì sách và báo chí đến bằng đường bưu điện đều bị ban quản lý trại tịch thu cả. Riêng gia đình em gồm hai vợ chồng và bốn con thơ, chẳng may đến trại tị nạn Sikiew này sau ngày 14 tháng 3, năm 1989.

Sau nhiều lần vượt biên, bị bắt ở tù, ra tù lại đi nữa. Sóng to gió lớn, đói khát đe dọa tánh mạng giữa biển khơi, biết bao là nguy hiểm. Cũng may là nhờ Thượng Đế che chở cho nên được đến nơi an toàn.

Tưởng đâu như thế là được toại nguyện. Nào ngờ gia đình em phải trải qua cuộc thanh lọc đầy gay go và trắc trở. Hiện nay gia đình em đã bị đánh rớt và không được công nhận là tị nạn, sau khi đã chờ đợi mỏi mòn hơn bốn năm. Nhiều người là cựu quân nhân có từ hai đến tám năm tù cũng đều chung số phận như gia đình em.

Chồng em đã tham gia phục quốc. Sau khi bị thất bại, chồng em trốn đi lúc em mang thai đứa con thứ tư. Sau khi sinh nở được hai tháng, em cũng bồng bế các con ra đi và gặp lại chồng em. Đó là điều vô cùng hạnh phúc phải không chị?

Sau bốn năm ở trại tị nạn, chỉ nhờ vào luơng thực của Cao Ủy LHQ viện trợ, chỉ có gạo là đủ ăn, ngoài ra mọi thứ đều thiếu thốn. Bởi vì em không có thân nhân ở nước ngoài viện trợ, nên rất khó khăn trong cuộc sống. Các con em bị suy dinh dưỡng vì thiếu ăn. Rất tội nghiệp cho các cháu.

Hôm nay, em mạo muội gửi thư này đến chị và mong chị thương mà giúp đỡ cho gia đình em trong lúc khó khăn này. Sự giúp đỡ của chị sẽ giúp cho các cháu có thêm thức ăn và tạo niềm an ủi cho vơi bớt nỗi khổ đau mà gia đình em đã chịu đựng trong bốn năm qua.

Hiện nay các cháu có lẽ đã học thành tài rồi phải không chị? Em rất thương và có cảm tình với cháu Thiên Hương, vì bé đi tị nạn từ lúc còn trong bụng mẹ. Mặc dù em chưa một lần gặp mặt, bây giờ chắc cháu lớn lắm phải không chị?

Thư có giới hạn, em xin dừng bút, hẹn chị thư sau. Rất mong hồi âm của chị. Cuối thư, em xin cầu nguyện Thiên Chúa ban mọi phước lành cho gia đình chị.

Một độc giả của chị,

Quách thị Huyên
PST 4771, House B7/29,
Thai Red Cross Society,
P.O. Box 1302, Sikiew Camp, Bangkok 10501


4. Thư của Cô Trần thị Ngọc Trinh viết từ trại Sikiew ở Thái Lan.

Sikiew ngày 20 tháng 7 năm 1994

Trọng kính cô chú,

Con xin mạn phép viết thư này, kính chúc cô và gia đình làm ăn phát tài, vạn sự như ý, gặp nhiều may mắn.

Thấy cuộc sống qúa cực khổ của gia đình con, nên một người quen đã cho con biết địa chỉ của cô. Biết cô rất có lòng nhân đức, luôn thương giúp người hoạn nạn, lại sẵn lòng chia cơm xẻ áo cho những người có hoàn cảnh đói khổ, nên con liền bán bớt đi chín ký gạo, phần ăn của Cao ủy LHQ phát cho để lấy tiền mua tem gửi thư tới cho cô.

Con hy vọng và mong ước rằng cô nhận thư và cho phép con được nghĩ cô chú là cha mẹ của con để con có đủ nghị lực và can đảm nói và viết lên tất cả những nỗi niềm đớn đau, chua xót và bất hạnh của cuộc đời con.

Thưa cô, con tên là Trần thị Ngọc Trinh. Cha con là sĩ quan của quân lực VNCH đã bị bắt và đưa đi học cải tạo nhiều năm. Sau khi được trả tự do để về sống cùng gia đình, ba con luôn bị Cộng Sản dòm ngó và gây khó khăn.

Vì không thể sống trong cảnh tù lỏng đó nên cha mẹ con tìm đủ mội cách đưa chúng con thoát đi tìm cuộc sống và tương lai. Nhưng đau đớn thay! Gia đình con đã phải trả một giá qúa đắt cho ”tự do và cuộc sống”.

Trên chuyến hải hành dài bảy ngày lênh đênh trên biển cả, hết cạn lương thực và nước uống, Trời cao đã không thương xót gia đình con nên tàu của con bị cướp rồi bị bắt. Tai họa thảm khốc phủ xuống bà con trên con tàu. Bọn hải tặc bắt thanh niên hành hung đánh đập. Rồi sau đó, họ bắt số phụ nữ ra mà hành hạ. Con cùng mẹ và năm người phụ nữ nữa bị chúng thay phiên nhau hãm hiếp một cách thật dã man và tàn ác.

Chúng hung dữ và mọi rợ như lũ thú rừng. Con là một phụ nữ trẻ nhất nhưng lại bị hành hạ nhiều nhất. Cha con vì qúa nóng lòng đau xót nên có hành động chống cự lại chúng. Thế là chúng đập đầu, giết chết cha con rồi quăng ông xuống biển. Trong tình thế ấy, mẹ con gào thét lên rồi ngất lịm đi, em trai con qúa nóng lòng nên chống lại chúng, rồi cũng bị chúng giết chết và ném xuống lòng biển sâu. Lúc ấy, con qúa hãi hùng và lo cho sinh mạng của mẹ con và các em, nên chỉ biết lạy khóc và van xin cho tất cả sinh mạng của những người còn lại.

Sau đó con đành chấp nhận xuôi tay chịu mọi cực hình và sự hành hạ của lũ thú vật đội lốt người. Sau bốn ngày chịu đựng sự hành hạ, chúng buông tha chúng con. Kết qủa là ba người đã bỏ mình trên biển. Mẹ con cùng một số người nữa bệnh rất nặng. Phần con thì qúa kiệt sức nhưng vẫn phải cố gắng để dìu dắt mẹ và hai đứa em qúa yếu sức vì đói khát.

Khi đến trại tị nạn, nhờ lòng thương xót của một số người Thái và Cao Ủy Tị Nạn chăm sóc rất nhiệt tình, nên số người sống sót lại được bình phục, nhưng mỗi người đều mang một tâm trạng u uẩn và bi thương.

Gia đình con thì nỗi tang tóc qúa nhiều. Mẹ con sống rất là đau khổ và điên loạn. Thân phận con thì sức khỏe rất yếu và không ăn ngủ gì được hết. Kết qủa cuối cùng là con đã mang thai, cái bào thai bất đắc dĩ. Con mang thai trong nỗi đau đớn và sự kinh hoàng của một cuộc đời con gái đã mất mát tất cả, chẳng còn gì hết, chỉ còn lại hai bàn tay trắng, một bà mẹ già đau khổ đến điên loạn, hai đứa em thân yêu và một đứa con ngoài ý muốn.

Con phải làm gì đây nơi xứ lạ quê người? Không có một sự giúp đỡ nào. Sống giữa bốn bức tường khép kín, gia đình con lây lất trong nỗi khắc khoải, đói rách, tuyệt vọng của cuộc đời. Con không biết nương tựa vào ai, rồi ngày tháng trôi qua, con sanh nở thiếu thốn đủ mọi thứ. Phần không có thức ăn, thuốc uống trong khi sanh nở, nên sức khỏe con rất yếu. Con đã bị bịnh phổi rất nặng. Cháu bé không có sữa bú nên phải bú bằng nước cháo thay sữa. Căn bệnh đau phổi của con kéo dài do cuộc sống qúa cực khổ và vất vả trong công việc hàng ngày.

Con phải cố gắng qúa sức để tạo ra miếng ăn cho mẹ già, em dại và con thơ. Ngày hai buổi con đến trường để dạy học. Mỗi tháng chỉ có được một trăm bahts (năm đô la). Số tiền này chỉ đủ mua thức ăn cho gia đình con ăn trong ba ngày vì vật giá đắt đỏ của trại tị nạn.

Tối đến, con phải đi giặt quần áo và gánh nước mướn cho những gia đình giàu có trong trại tị nạn, để có thêm chút ít tiền mua thức ăn cho mẹ già, em dại và con thơ. Con muốn tình trạng suy dinh dưỡng của trẻ thơ được bớt đi. Một đứa con thơ không cha vô tội. Ở đây, một tuần lễ, chỉ có được hai ngày ăn đồ ăn của Cao Ủy phát cho, những ngày còn lại thì chỉ có cơm và muối hột mà thôi.

Trọng kính cô chú!

Con ngồi viết thư đến cô chú giữa đêm khuya vắng vẻ, bên ngọn đèn cầy ánh sáng leo lét. Con nhớ và hồi tưởng lại tất cả những chuyện đã xảy ra và cuộc sống hiện tại của con mà rơi nước mắt. Con đã khóc suốt gần ba năm qua trong cuộc sống qúa bi đát và khốn khổ.

Con cúi xin cô chú nhỏ lòng thương xót cho con, một đứa con gái sớm mang nhiều nỗi bất hạnh trong cuộc đời. Mới hai muơi lăm tuổi mà con đã phải nhìn thẳng và chấp nhận một tuơng lai đen tối, không lối thoát. Hiện tại con chỉ sống cho những tình thân thương còn lại trong tầm tay và với đứa con thơ vô tội không cha.

Trọng kính cô chú,

Vì cuộc sống qúa khổ cực và nhiều đau thương, và vì bệnh trạng của con ngày càng thêm trầm trọng hơn nên sức khỏe của con yếu dần , gần như qúa kiệt sức. Con không còn đến lớp để dạy nổi nữa, và cũng không còn có thể giặt quần áo và gánh nước như trước đây được nữa.

Con bệnh vì thiếu ăn và thiếu thuốc qúa nhiều. Mỗi ngày con chỉ có hai viên thuốc mà bịnh viện trại phát cho. Con rất lo sợ. Nếu không may, con có mệnh hệ gì thì mẹ già, con thơ và em dại sẽ sống ra sao. Con cúi xin cô chú cho con sự sống trên cõi đời. Xin cô chú hãy vì tình thương yêu cao cả và lòng nhân từ bác ái mà cứu giúp cho gia đình con trong bước đường cùng này.

Con cúi xin cô chú ban cho gia đình con một nguồn an ủi, một nguồn ánh sáng trong những ngày tháng kế tiếp. Cúi xin cô chú thương xót cho gia đình con xin một miếng ăn khi chúng con đang đói.

Từ trong ngục tù tối tăm và đọa đầy này, con cất tiếng kêu cầu cứu trong thương đau của tình thương ”phụ mẫu tử”, con cúi xin cô chú thương nghe cho tiếng kêu cầu cứu của con. Cúi xin cô chú thương giùm hoàn cảnh mồ côi của chị em con mà ban cho chúng con tình thương yêu đùm bọc, che chở của một người cha mà Đấng Tạo Hóa đã cướp mất đi của chị em con gần ba năm qua.

Con cúi xin cô chú thương nhận cho tất cả những lời van xin cầu khẩn của gia đình con. Con cúi xin cô chú nhỏ lòng thương xót cho cảnh nghèo đói của gia đình con và căn bệnh của con, bổn phận làm chị và làm con của con.

Nhìn thấy mẹ già đau khổ điên loạn, đàn em côi cút và bơ vơ trong nỗi mất cha, một đứa con thơ vô tội, con rất đau lòng và tủi hổ, không biết làm sao hơn. Con chỉ biết cầu xin và van vái cùng Trời Phật cho con gặp được ân nhân giúp đỡ.

Nay con biết được cô chú có lòng nhân đức, con cúi xin cô chú thương ban cho chúng con sự sống, nguồn an ủi, cùng một tình thương cao cả vô bờ bến. Cô chú sẽ là vị cứu tinh, là chiếc phao cho chúng con bám víu vào, là người dắt dìu khi gia đình con đang chết đuối giữa giòng đời tị nạn.

Con xin gửi kèm theo thư là giấy chứng bệnh của con. Cúi xin cô chú thương giùm căn bệnh của con. Con cúi xin cô chú cứu giúp và cứu tử cho con. Kính cầu xin Đấng bề trên luôn trả công bội phước cho cô chú cùng gia đình. Cầu xin mọi sự tốt đẹp và vui vẻ đến trong gia đình cô chú cùng các anh chị em. Con xin cô chú cho phép con ngừng bút.

Kính thư,

Trần thị Ngọc Trinh
PST 8715, House A7, Sikiew camp,
P.O. Box 1302. Bangkok, 10501. Thailand


5. Thư của bà Trần thị Thơ viết từ trại Sikiew, Thái Lan.

Bà Kim Hà kính mến,

Trước hết tôi xin kính gửi đến bà và toàn gia quyến lời thăm sức khỏe, xin Chúa và Mẹ Maria gìn giữ, nâng đỡ và ban mọi hồng ân tràn đầy xuống cho bà và gia đình.

Kế đến, tôi và các cháu xin gửi đến bà những tâm tư đau buồn. Kính mong bà vì tình thương mà động lòng giúp đỡ cho chúng tôi trong các hoàn cảnh đau thương mà chúng tôi đã gặp phải. Vì yêu chuộng tự do, vì tương lai của các con mà gia đình tôi đã đi tìm tự do trên một chuyến tàu, nhưng qúa kém may mắn đã bị hải tặc chận cướp.

Thưa bà, họ đã lột hết nữ trang, rồi họ hãm hiếp phụ nữ chúng tôi. Chồng tôi và mấy người đàn ông nữa vì thương vợ đã có hành động chống lại họ, để rồi nhận lấy sự thua thiệt, bị đánh đập tàn nhẫn, rồi bị xô xuống biển. Thế là tôi đã mất chồng trong đau thương, còn các con nhỏ của tôi sống trong cảnh bơ vơ và côi cút.

Bà ơi, sao số phận tôi qúa đau thương. Đã thế, sau khi thỏa mãn dục vọng và ác tâm, họ đã phá hư máy tàu và lấy hết dầu. Chúng tôi đã phải đói khát, tàu trôi lênh đênh vô định trong bảy ngày đêm. Một phép lạ đã dẫn dắt con tàu định mệnh ấy dạt vào một dàn khoan và chúng tôi được cứu sống!

Ngày vào trại , tưởng đâu sẽ được đối đãi tử tế, nào ngờ cái mốc 14 tháng 3, 1989 đã làm chúng tôi mất hết niềm hy vọng. Nay lại phải đối đầu với sự thiếu thốn, lương thực mà Cao Ủy cấp cho chỉ có lệ. Khẩu phần bảy ngày cho một người lớn là ba ký ruỡi gạo, 700 grams rau, 100 grams cá và 100 grams gà và một ít muối.

Với số lương thực ít ỏi đó, ngoài gạo ra, gói ghém lại chỉ đủ dùng dè dặt lắm được hai ngày. Ở đây mọi người đều phải nhờ vào sự giúp đỡ của thân nhân ở các nước hàng tháng.

Tôi và ba cháu nhỏ vì không có ai là người thân ở hải ngoại, và vì các cháu nhỏ chịu cảnh cơm muối qúa lâu. Các cháu ốm đau luôn. Mỗi lần nhìn các con nhỏ trong mỗi bữa ăn, chỉ có cơm và muối, tôi đau xót qúa, nhưng không biết nơi nào mà cầu cứu.

Nay tôi đánh liều bán đi ít gạo cho nhà thầu đủ để mua cái Aerogramme này viết thư đến bà. Kính mong bà vì lòng thương và tình nhân đạo chia sẻ và giúp đỡ. Tôi và các cháu mang nặng ơn ấy, xin đừng nỡ từ chối lời cầu cứu của tôi!

Cuối cùng, không biết nói gì hơn để cảm tạ bà. Qua kinh nguyện hàng ngày, xin Chúa và Mẹ Maria luôn gìn giữ, nâng đỡ và ban ơn bình an cho bà và toàn gia quyến. Kính mong tin từ nơi bà.

Nay kính thư,

Trần thị Thơ
PST 2864, C/4, Sikiew camp
P.O. Box 1302, Bangkok, 10501. Thailand


6. Thư của anh Nguyễn thanh Việt, viết từ trại Sikiew, Thái Lan.

Sikiew ngày 20 tháng 11, năm 1992

Kính gửi cô Kim Hà,

Thưa cô, con tên là Nguyễn Thanh Việt, mười tám tuổi, là một thuyền nhân. Con đến Thái Lan ngày 17 tháng 3 năm 1989. Con không có thân nhân ở đệ tam quốc gia.

Cô ơi, con khổ nhiều. Xin cô giúp con và cứu khổ cho con. Cao Ủy cấp lương thực một tuần lễ hai lần: cá một đầu người một lạng, rau xanh ba lạng. Thật là kham khổ cô ơi!

Thưa cô, ngày con ra đi thì mẹ con còn sống. Nay mẹ con đã chết từ 5 tháng nay rồi. Cha con là cảnh sát chết năm 1975. Ngày trước con còn mẹ, nay con mất mẹ. Cô ơi, giờ con chẳng còn mẹ cũng như cha. Nếu con về lại Việt Nam cũng chẳng còn ai. Có lẽ sau khi mẹ con chết, cái nhà chắc cũng không còn.

Cô ơi, xin cô hãy thương con, Cao Ủy không thương con. Họ đã cướp hết quyền tị nạn của con rồi, cứu con cô ơi! Con đang bơ vơ ở xứ người quê lạ. Nơi mà không có tình thương thân ái, không một chút tình người cô ơi. Con thiếu tất cả, nằm đêm con nghĩ con chẳng biết về đâu. Con muốn học cũng chẳng học được.

Khi con muốn cười cũng không biết cười như thế nào cho vui. Chiều buồn con ngồi dưới gốc cây to để nhớ mẹ rồi nhớ cha, và nhớ quê nhà nhiều kỷ niệm của tuổi thơ.

Để con kể chuyến vượt biên của con. Con đi vượt biên với chú con bằng đường biển. Hai chú cháu con sang Cambodia đến cảng Kongfongsom, rồi họ cho đi bộ khoảng năm cây số ở trong rừng. Đến tối thì họ cho xuống tàu chạy. Đến sáng thì có một chiếc tàu khác ở đàng sau tàu con lao đi rất nhanh rồi qua mặt tàu con. Sau đó, họ chận tàu con lại rồi có ba người to con, mặt đen, nhìn coi dữ tợn. Thế rồi họ xét lấy hết vàng. Trong khi đó, chú con trốn ở dưới gầm tàu gần cabin. Tưởng đâu đã êm xuôi rồi, ai ngờ đâu họ còn trở lại xét một lần nữa.

Lần này họ gặp chú con ở gầm tàu, họ lấy hết hai chỉ vàng và nói một tràng tiếng gì mà con cũng không hiểu hết. Rồi một thằng cầm cái búa bổ vào đầu chú con ngã gục xuống, máu tuôn lai láng. Lúc đó, con chạy lại ôm lấy chú con và khóc qùy lạy, van xin họ tha cho, nhưng họ vẫn có thái độ tàn nhẫn. Họ đá con một đá và bồi cho chú con một búa tiếp. Chú con chết thật đau đớn. Sau đó, con bị xỉu, không còn biết gì nữa.

Cho nên bây giờ, con khổ lắm, cõi lòng con tan nát. Bây giờ con phải làm sao thưa cô? Hôm nay có bà cụ kia, 65 tuổi cũng không có thân nhân như con. Bà cụ cho con cái Aerogramme và địa chỉ của cô để con gửi đến cô lời cầu cứu. Con kính chúc cô an khang và trường thọ cùng muôn điều như ý. Con xin kính chào cô.

Kính thư,

Nguyễn Thanh Việt
PST 228, House B2/4, Sikiew Camp,
Thai Red Cross Society,
P.O. Box 1302, Bangkok 10501 Thailand


7. Thư của cô Nguyễn thị Mỹ Nga viết từ trại Sikiew, Thái Lan.

Kính thưa cô Kim Hà,

Đầu thư em xin được phép kính thăm cô, thầy và toàn thể gia quyến của cô được mạnh khỏe, thăng tiến trên đường tương lai. Em xin cô thứ lỗi cho sự đường đột này.

Em may mắn đọc quyển hồi ký Qua Cơn Bão Dữ của chính cô xuất bản. Tình cờ em gặp chị bạn đang đọc quyển sách của cô viết, em cũng ngồi đọc ké theo vài trang và bị thu hút ngay. Em cố gắng năn nỉ mượn được hơn một buổi, bỏ cả ăn cơm để đọc vội vàng lướt qua cho nhanh, dù rất tiếc nhưng em cũng bị xúc động theo những dữ kiện đã kể qua trong tập hồi ký.

Thưa cô, em tiếc là mình không có tài viết văn như cô vì trình độ kém. Em thi rớt tú tài năm 1974. Năng khiếu văn chương không có, nên những lao đao của cuộc đời chỉ mình biết, mình hay.

Khi đọc quyển hồi ký của cô, em rất mến phục. Theo sự nhận xét của em thì cô rất có tài và có nhiều đức tính. Cái đức tính đáng qúy nhất là lương tâm và lòng nhân đạo của một nhà mô phạm nơi cô vẫn sáng ngời, không phai phôi. Trong khi gần hết người ta đã quay mặt bỏ lòng nhân đạo ở phía sau, mặc kệ những kẻ khốn cùng đang bị đọa đày bằm dập.

Em tên là Nguyễn Thị Mỹ Nga, cựu học sinh trung tâm tổng hợp Phan thanh Giản ở Cần Thơ, cũng là cựu cán bộ xây dựng nông thôn của tỉnh Phong Dinh. Sau 1975, cha em đi cải tạo mất bảy năm. Bây giờ muốn đi chính thức theo diện H.O.(tù nhân chính trị) cũng không có vàng để lo lót cho công an.

Trước 1975, em cũng có cơ hội ra đi giống như cô nhưng lại bỏ mất cơ hội. Mới mười chín tuổi, chưa khẳng định di tản để làm gì. Để rồi sau đó, không chịu đựng được những bất công vùi dập của chế độ mới đối với gia đình và bản thân, em mới tìm đường ra đi thì đã muộn.

Là con gái lớn nhất trong gia đình, mẹ lại mới sinh, em cũng lê lết buôn gánh, bán bưng như cô và cả nhà cũng ăn bắp, khoai, chuối trừ cơm khi ế ẩm.

Đọc đoạn này trong hồi ký của cô, nhớ lại đoạn đời mình mà không sao ngăn được nước mắt. Nhưng phải nói trên con đường khổ ải tìm tự do, số cô tốt phước được nhiều hồng ân Thiên Chúa ban cho, và gặp được nhiều may mắn hơn người. Chứ cuộc đời của em phải trải qua bao nhiêu bất hạnh và buồn tủi.

Lần đầu em ở tù bốn tháng là cuối năm 1977 và đến tháng4 năm 1978. Sau đó, vào năm 1980, em rủ thêm vài người bạn để giới thiệu họ đi vượt biên và mình được đi theo không tốn tiền. Chúng em ra đi và lại bị bắt vì nhóm tổ chức vượt biên cướp tàu hải sản để trốn ra đi, nên khi bị tàu tuần bắt lại, cả nhóm phải ra tòa.

Em cũng bị khép trong hàng ngũ của nhóm tổ chức vì móc nối người đi để được đi theo không tốn tiền. Sẵn có lý lịch xấu, cha còn đang tù cải tạo. Lần đầu họ xử sơ thẩm em bị tuyên án muời lăm năm. Em xin xử lại phúc thẩm năm 1985 thì còn lại mười hai năm. Sống lây lất qua nhiều trại giam và trại cải tạo, với bao nhiêu đọa đày nhục nhã của kiếp tù tội, đến 27 tháng 10 năm 1988 em được trả tự do.

Lại cũng mang ý định ra đi, em vẫn chưa tởn dù thân xác đã võ vàng. Trước lúc ra đi, em lên Sàigòn đến nhà thờ Chí Hòa viếng thăm cậu hai của em là linh mục Hồ văn Vui, chủ chăn của họ dưỡng lão ở đó. Trước năm 1975, cậu em là giám đốc Caritas Việt Nam. Cậu gặp em thì lén lút cho ít tiền làm lộ phí vì cậu xót xa thương đứa cháu gái một đời long đong. Ngày 21 tháng 2 năm 1990, em đến được Thái Lan bằng đường biển, đã ở qua trại Panatnikhom và chuyển về trại Sikiew làm thanh lọc và chờ kết qủa. Nhưng gần chín năm tù vẫn không làm cho em đậu thanh lọc. Em rớt với lý do chua chót: ”Sự sợ hãi bị ngược đãi không là lý do chính đáng.”

Đúng như cô đã viết, ở trại tị nạn mà không thân nhân, không tiền thì sự đời ví mình giống như cục phân, chẳng ai thèm chơi với mình, vì người ta sợ mình mượn tiền, mà mình lại không có tiền thì lấy đâu mà trả.

Đọc tập hồi ký của cô, những u uẩn của lòng em như vơi đi vì ít ra cũng còn có một người ở cách xa cả nửa vòng trái đất vẫn còn hiểu thấu và thông cảm. Em được thấy hình cô, hình gia đình thầy, cô và các em trong quyển hồi ký. Còn tiểu sử của cô vì người ta bao lại và dán kín nên không đọc được, em tiếc hùi hụi.

Bây giờ cô có còn viết văn không? Cô có cần tài liệu gì trong trại thì cô viết cho em biết. Nếu em biết được gì sẽ cung cấp tin cho cô. Em ước mong được cô xem em như là học trò của cô để học hỏi ở nơi cô nhiều điều khuyên giải. Số kiếp của em chẳng khác nào thân củi mục lao đao trước những đợt sóng đời. Em không có thân nhân ở nước ngoài bảo trợ.

Từ khi rớt thanh lọc, xin vào hội Mékông để được mạnh thường quân bảo trợ hàng tháng, thì chương trình này đã chấm dứt không còn cho đơn (vì mình không có phe phái). Gia đình em có hai người, em của em và em, hai chị em thay phiên nhau xách nước mướn. Ở đây lương thực hàng tuần chỉ có hai ngày, gạo dư dả nhưng bị thèm khát. Những cơn thèm khát giống như cô đã viết. Lá thư này làm rộn thời gian cô, nhưng chắc cô cũng hiểu được nỗi lòng của em mà rộng lòng thông cảm.

Cuối thư, kính chúc cô và toàn thể gia đình cô được nhiều ơn lành và bình an trong tay Chúa.

Kính thư,

Nguyễn thị Mỹ Nga
PST 3798, House C#3. Sikiew Camp,
Thai Red Cross Society,
P.O. Box 1302, Bangkok, 10501, Thailand
Về Đầu Trang
Xem lý lịch thành viên Gởi tin nhắn
HongThatCong



Ngày tham gia: 20 2 2005
Bài gởi: 736
Đến từ: California

Bài gởiGởi bởi: Ba 6 19, 2007 12:45 am    Tiêu đề:

Chương XII

From: "Minh Hang"
Subject: How can I help
Date: Fri, 27 Apr 2007 15:49:56 -0400

Dear Mrs Kim Ha,

My name is Minh Hang. I sent you an email last week and asked for information on how to help the poor in Vietnam. Today I read your story about your own experience when you escape VN. Then I read many more sad stories(letters) mostly from Sikiew, Thailand in 1994 on your website.

Words cannot describe my feeling and sorrow for you and other unfortunate brothers and sisters (we are all brother and sister in God eyes). I cannot stop crying when I read the letter from Cô Trần thị Ngọc Trinh. From her letter, I can tell she is my age(38) by now. I was too young and live a good life in 1994 and know nothing about these suffering. I wish that I could help in some way.

Now these concentration camp no longer exists. Here is my question: Is there any chance you still keep in touch with the people who sent these letters and asked you for help? I know it is been 13 years. But I never know. Can you tell me if it is possible for me to help these people in some ways?

Sorry to bother you on this. I hate to bring this subject back to your life. I hope you understand why I send this email. I just want to help.

Thanks

Minh Hang

Date: Fri, 27 Apr 2007 13:59:58 -0700 (PDT)
Subject: Re: How can I help
To: "Minh Hang"

Dear Minh Hang,

Thank you for your letter. It touched my heart! I am sorry that I do not know anything more about their destiny. It has been 13 years since those letters were sent to me. I know that much of those refugees were sent back to Viet Nam. Some of them might be re-settled in the third countries, such as the USA or some other free countries. I hope that those people will read my book and contact me via emails.

It took so long for me to re-write other refugees' stories and my own story, over 20 years But it is better late than never.

Thank you for sharing your feeling. I treasure your feed-back. That is why I have written 4 different books on the subject of Land Refugees. I hope that the younger generations can read and know what truly happened in Viet Nam and the suffering that our people endured.

May I share your viewpoint with other readers on the www.memaria.org, please?

Thank you, if you really want to help, please pray for our country Viet Nam, for our people, for the souls of refugees who lost their lives on the way to escaped, and especially for the unfortunate refugees who never can come to the free countries. May God bless you!

Kim Ha
Về Đầu Trang
Xem lý lịch thành viên Gởi tin nhắn
Trình bày bài viết theo thời gian:   
Gởi bài mới   Trả lời chủ đề nầy    Diễn Đàn MẪU TÂM -> 40 NĂM NGƯỜI VIỆT VIỄN XỨ Thời gian được tính theo giờ Việt Nam PST (U.S./Canada)
Chuyển đến trang Trang trước  1, 2, 3 ... 11, 12, 13
Trang 13 trong tổng số 13 trang

 
Chuyển đến 
Bạn không có quyền gởi bài viết
Bạn không có quyền trả lời bài viết
Bạn không có quyền sửa chữa bài viết của bạn
Bạn không có quyền xóa bài viết của bạn
Bạn không có quyền tham gia bầu chọn
|   Register   |   Tin nhắn riêng   |   Đăng Nhập

Powered by -php_BB- Copyright © mautam.net, 2005. All Rights Reserved