Hồi Ký Vượt Biên Đường Bộ Tìm Tự Do
Chuyển đến trang Trang trước  1, 2, 3, 4 ... 11, 12, 13  Trang kế
 
Gởi bài mới   Trả lời chủ đề nầy    Diễn Đàn MẪU TÂM -> 40 NĂM NGƯỜI VIỆT VIỄN XỨ
Xem chủ đề trước :: Xem chủ đề kế  
Tác giả Thông điệp
HongThatCong



Ngày tham gia: 20 2 2005
Bài gởi: 736
Đến từ: California

Bài gởiGởi bởi: Hai 6 18, 2007 3:20 am    Tiêu đề:

Chương II-II. Cách cấu tạo trại NW 82


1. Nội quy trại:
Trại có khoảng ba mươi lều ghi từ số 1 đến số 30. Lều khá lớn, có màu xanh rêu của quân đội. Cứ giữa hai lều thì có một khoảng cách độ chừng một thước. Chung quanh các lều là một hàng cọc tre sơn màu đỏ để bao bọc tất cả chu vi trại. Dân tị nạn bị cấm đi ra khỏi các hàng cọc tre ấy. Cách hàng cọc sơn đỏ độ một thước là hàng rào tre. Hễ ai mà vượt ra vòng rào là bị lính Thái đánh đập ngay.

Cạnh hàng rào tre có một cái chuồng như kiểu chuồng súc vật, cao hơn nửa thước, có mỗi cạnh độ chừng hai thước. Chuồng có hình vuông và sơn màu đỏ. Người ta gọi là chuồng cọp vì nó được dùng để nhốt người tị nạn phạm tội hay phạm kỷ luật. Tuy nhiên có khi dân tị nạn chẳng có tội lỗi gì cũng bị giam cầm. Đa số nạn nhân là đàn ông. Báo chí ngoại quốc khi vào thăm trại đều chú ý chụp hình cái chuồng cọp này.

Ban đại diện người tị nạn tuy có hiện diện nhưng cũng như bù nhìn, lơ mơ cũng bị ăn đòn như dân thường. Hễ lính Thái bảo làm gì thì làm nấy. Trong trại cũng có thành lập một ban trật tự, mục đích để giữ gìn an ninh, để thi oai, đối chọi với dân tị nạn chứ không phải để chống chọi với lính Thái. Một nhân viên trong ban đại diện tị nạn vì tỏ ý phản đối việc lính Thái bắt một cô gái có liên hệ với ông ta nên ngay hôm sau, ông này bị lính Thái đánh đập tàn nhẫn.

Ở đây, lính Thái ra lệnh cấm mua hay bán bất cứ một món hàng gì. Nếu trái lệnh sẽ bị ghép là có tội và bị trừng phạt ngay. Xin đan cử một vài trường hợp sau:

-Một người tị nạn lén mua một bó rau muống do người dân Miên đem bán ở cạnh hàng rào. Bất ngờ, lính Thái bắt được qủa tang, hắn ra lệnh cho người này phải ăn sống ngay bó rau muống tại chỗ.

-Một người khác vì thèm thuốc rê và thuốc lá nên lén mua ít thuốc lá. Lính Thái bắt được bèn xé nhỏ thuốc lá rồi quậy xác thuốc trong tô nước. Sau đó hắn bắt anh ta phải ăn xác thuốc và uống tô nước đầy xác thuốc lá.

-Một bà tìm mua một gói đường cát. Lính Thái bắt được bèn trộn đường chung với đất cát rồi bắt bà ta ăn cả đường lẫn đất cát.

-Một bà bầu thèm ăn loại bánh cóng làm bằng bột gạo, có nhân đậu xanh chiên lên. Lính Thái bắt được bèn đổ bánh xuống đất, rồi lấy giày ”bốt đờ sô” chà đạp nát và bắt bà ta ăn cho kỳ hết.

Khi chúng tôi gần được cho đi định cư thì luật lệ được nới ra. Dân được mua bán rau muống. Ngoài ra họ cũng có thể tập hợp để sinh hoạt văn nghệ bỏ túi.

2. Tên hung thần nổi tiếng của trại NW 82.
Trở lại chuyện tên sĩ quan chỉ huy phó lo về an ninh của Thái, có biệt danh là Cọp. Cọp rất tàn ác và hiểm độc. Hễ thấy hắn là dân tị nạn phải ngó tránh đi chỗ khác. Nếu để hắn bắt được mình đang nhìn hắn là hắn đánh ngay. Hễ hắn muốn đánh ai là hắn có toàn quyền đánh, không cần có lý do chính đáng. Vì thế hễ thấy hắn lảng vảng đến lều bên cạnh là ai nấy lo chạy trốn trước kẻo bị đòn oan.

Rất nhiều lần dù dân tị nạn không hề phạm lỗi gì thì hắn vẫn kiếm cớ để đánh đập họ. Có nhiều người đang ngồi trong lều cũng bị tên Cọp này kêu ra và ”dợt” võ chơi. Hắn xem dân tị nạn như những bao cát dài để hắn tập dợt những thế quyền Anh của hắn. Hắn đá vô mặt, cổ, ngực, lưng và bao tử của từng người. Tôi đã từng chứng kiến cảnh tên Cọp đá vô bao tử của một số nạn nhân. Nhìn họ đau đớn đến gập người xuống, tự nhiên tôi cảm thấy lòng mình quặn đau y như người trong cuộc.

Có nhiều lần, tên Cọp đánh người tị nạn bằng cây gậy hay bằng báng súng. Có lần nạn nhân bị hắn đánh gẫy tay, có lần nạn nhân khác bị hắn đánh gãy xương sườn. Phòng Y Tế của trại không đủ phương tiện chữa trị cho nạn nhân xấu số ấy.

Mặt khác, hội HTTQT lại không dám chở nạn nhân đi chữa trị ở bịnh viện Khao Y Đang vì sợ đụng chạm đến tên Cọp và sợ lòi ra tội đánh người mang thương tích của hắn. Vì không được chữa trị đúng mức nên nạn nhân gầy mòn và đau đớn từng ngày. Sau đó không biết số phận các nạn nhân ra sao nữa.

Tại trại NW 82, vì đa số dân tị nạn hết tiền nên họ không thể thuê người cắt tóc. Giá tiền để cắt tóc là 1 baht hay hai baht. Một baht Thái tương đương năm xu của Mỹ. Một đô la Mỹ trị giá 20 baht. Mà hễ để tóc dài thì cũng bị tên Cọp đánh hay bắt phạt.

Một hôm có một người đàn ông vì tóc để dài đến tận vai nên bị tên Cọp phạt bằng cách bắt ông ta lội dưới mương đầy sình lầy, phân và nước tiểu. Hắn bắt ông ta lội sấp rồi lội ngửa ở dưới mương và phải vục mặt vào chỗ đầy phân và nước tiểu ấy. Hễ ông ta định ngóc đầu lên để thở là bị tên Cọp đánh đập ngay. Khi tên Cọp cho phép đứng lên thì trông ông ta như một vật gì chứ không phải là con người nữa vì khắp cơ thể đã bị sình lầy, phân và bùn phủ kín và che lấp hết, chỉ còn có hai con mắt rục rịch mà thôi.

Sự đối xử tàn ác của lính Thái đối với dân tị nạn thật là khủng khiếp và tồi tệ. Về sau khi tôi kể lại cho bạn bè ở các trại Bataan và ở Mỹ nghe, không ai dám tin đó là sự thật nữa.

3. Tình trạng hãm hiếp:
Tình trạng hãm hiếp vẫn có nhưng ít hơn và bớt lộ liễu hơn bọn lính Para người Miên. Mức độ thì vẫn khủng khiếp không kém. Bọn lính Thái còn dùng tiền để mua chuộc hay dùng áp lực để dọa nạt và đòi sự thỏa mãn xác thịt.

4. Tình trạng sa sút tinh thần của người tị nạn ở NW 82.
Trong suốt thời gian chúng tôi ở trại này, không ai thấy tương lai được đi định cư. Không hề nghe có ai hứa hẹn giải quyết việc cho định cư cả. Chỉ nghe là định cư tại chỗ, hoặc cho mọi người trở về Việt nam, hoặc là nằm đây chờ, hoặc là ra ngoài ở chung với người dân Miên.

Lúc tôi gần rời trại NW 82 thì có pháo kích. Nghe đâu Việt cộng đánh vào Non Chan, đạn pháo kích nổ ầm ầm nhưng chưa vào chu vi trại NW 82. Hàng đêm, đàn bà và trẻ con được lệnh ra nằm ngoài khu vực trại, gần bờ đập giao thông hào. Nếu ai chạy lạng quạng đến bờ đập thì bị lính Thái bắn, còn chạy ra ngoài thì bị lính Para Miên bắn.

Tinh thần chúng tôi bị khủng hoảng vì không biết tương lai mình ra sao. Tin đồn từng ngày là trại này không được giải quyết, rằng trại NW 9 là trại tị nạn cuối cùng được giải quyết thôi. Có thể phải ở trại này đến ba, bốn năm nữa. Các tin đồn, tin vịt và dự đoán làm cho bà con lên ruột. Ngồi buồn, bà con dựng chuyện lên rồi truyền khẩu đủ thứ tin vịt. Lâu lâu lại đồn ”gần rồi”, có nghĩa là trại gần được giải quyết cho đi.

Khi cha Tom phát cho dân tị nạn một bộ đồ quần áo thì có tin đồn là gần được đi nên cha mới phát đồ cho để có quần áo mà mặc khi đổi trại. Họ còn bàn tán là ở trại NW 9, lúc sắp được giải tán người ta cũng phát đồ, dép và bàn chải đánh răng để chuyển trại. Thế là mọi người lại lên tinh thần., bàn tán hươu vượn và hy vọng dài dài.

Lâu dần, từ ngữ ”gần rồi” được lập lại nhiều lần một cách khôi hài, tiếu ngạo và đùa cợt. Nó trở thành một lối nói chuyện khôi hài giữa các đồng bào tị nạn. “Gần rồi” có nghiã là không bao giờ có hay sắp được đi rồi.

Thế rồi, lâu lâu lại có người đem tin giật gân và sốt dẻo đến bằng cách chìa lá thư của thân nhân anh ta ở ngoại quốc đến và nói là ở bên ấy, người ta đang lập phong trào tranh đấu để trại này sắp được giải quyết. Thế là bà con lại phấn khởi và lên tinh thần.

Nhưng rồi cơn phấn khởi và hồ hởi ấy chỉ khơi động lên một lát thì lại có một người nữa đem lá thư khác của thân nhân từ ngoại quốc gởi đến, nội dung thư này trái ngược với tin của thư trước. Thế là bà con lại xuống tinh thần ngay. Như thế đủ hiểu là tinh thần người tị nạn bất ổn, bị giao động mạnh, cứ lên xuống như trái banh khi căng lên, khi bị xì hơi thì xiù xuống.

Từ đó, trại NW 82 lại có thêm từ ngữ ”thua” và ”thắng”. Hễ nghe tiếng ”Thua, thua rồi!”có nghĩa là trại không được giải quyết cho đi, là bà con giật thót người lên, bụng quặn đau, rồi xôn xao lắng nghe thử thua như thế nào. Còn ”thắng” thì có nghĩa là trại sắp giải quyết cho đi thì bà con lại nhảy lên, bàn tán và mừng rỡ.

Có lần, chúng tôi được đọc một lá thư của một người tị nạn hồi trước ở trại NW 9 và đã đi định cư tại Úc. Ông này viết thư kể lại kinh nghiệm của ông hồi ở trại NW 9, cứ mỗi lần nghe tin đồn đủ thứ là lo sợ và mất tinh thần. Nhưng giờ này ông ta cũng đã được định cư như bao nhiêu người khác. Vậy thì mong bà con đừng lo sợ về chuyện tin đồn, cứ kiên tâm bình tĩnh mà chờ đợi. Lá thư ấy giúp bà con ổn định tinh thần được phần nào. Có lần, nghe nói trại NW 82 sắp được giải quyết, bà con tị nạn mừng rỡ, cười nói tíu tít. Một hôm, ông trưởng trại tuyên bố là ngày mai sẽ có một phái đoàn đến thăm và sẽ cho biết là dân ở đây được đi định cư hay bị trả về nguyên quán. Thế là cả trại xôn xao và chuẩn bị đón rước.

Đường đi trong trại được quét sạch và tưới nước cho khỏi bay bụi. Trẻ con được sắp thành hàng ngũ chỉnh tề nhưng quần áo các cháu thì rách mướp. Cả trại đứng đợi chờ từ sáng đến trưa dưới cơn nắng rực lửa. Ai cũng khát nước đến muốn xỉu. Trông thật tội nghiệp cho mọi người, nhất là các trẻ con.

Khi phái đoàn đến, hội HTTQT mừng rỡ chạy xe đến trại báo tin trước để dân chúng chuẩn bị cho chu đáo. Phái đoàn vừa đến là một đoàn con nít đồng cất tiếng hát. Các em hát rất nhiều bài mà tôi không nhớ được, nhưng cảm động nhất là bài hát ”Việt Nam, Việt Nam”. Mình là người trong cuộc nên cảm động đến chảy nước mắt, cả người nổi gai ốc lên trước cảnh tượng một bầy trẻ con, quần áo rách bươm, đứng dưới cơn nắng thiêu đốt để gân cổ lên hát chào mừng phái đoàn, những người có thể gọi là ân nhân vì có thể họ giúp đỡ cho dân tị nạn được đi sớm.

Khi phái đoàn đi ra về thì các em hát bài”Tạm biệt”. Có rất nhiều trong phái đoàn tỏ ra rất cảm động. Một trong những người của phái đoàn ấy là bà Mai Khôi, người Việt Nam. Bà là vợ của một sĩ quan tùy viên quân sự Mỹ ở Thái Lan. Bà này rất đẹp và có lòng thương người đồng hương. Bà đặc trách về vấn đề tị nạn. Trước đó, trại NW 9 cũng được bà Mai Khôi giúp đỡ rất nhiều trong việc cho dân tị nạn định cư sớm.

Chúng tôi được thông báo là phái đoàn đến thăm có khoảng mười một nước nhưng hôm đó chỉ có độ năm, bảy người đến thăm mà thôi. Họ đi ra rồi đi vào, chẳng nói năng hay tuyên bố điều gì mới lạ cả. Trước khi ra về, họ nói là:

”Phái đoàn chúng tôi chỉ đi thăm thôi chứ không có vấn đề gì khác!”

Khi họ về rồi, tất cả chúng tôi đau khổ, thất vọng và buồn chán vô cùng. Lúc ấy, sự mệt mỏi và chán nản làm mọi người buồn phiền và tuyệt vọng. Khi chờ đón thì hy vọng và vui mừng bao nhiêu thì khi tiễn khách về thì đau khổ và chán chường bấy nhiêu.

Chính lính Thái cũng muốn cho dân tị nạn Việt được sớm đi định cư. Vì thế họ đã căn dặn chúng tôi không được ăn đồ ăn ngon mà phải ăn đồ ăn tồi để phái đoàn quốc tế thấy khổ cực mà cho đi sớm.

Tuy vậy, sau đó hai tháng, cả trại chúng tôi được từ từ giải quyết cho đi. Điều đó cũng là nhờ sự can thiệp của phái đoàn quốc tế hôm ấy.

Từ đấy, cứ từng đợt được chuyển đến Panatnikhom Transit Center ở Chonburi, Thái Lan. Gia đình tôi được rời trại NW 82 vào ngày 4 tháng 2, năm 1983. Có được thoát khỏi NW 82, mới biết chắc là mình còn sống.

Ngày chúng tôi được đi định cư, bà con tị nạn còn lại khóc lóc thảm thiết vì chậm đi một ngày là thêm một ngày khổ sở và nguy hiểm, vì tai họa đến từ đủ mọi phía. Thật là trên đe dưới búa. Ngay cả hội HTTQT cũng không hề hứa hẹn hay nói những gì cho mình hy vọng cả. Hội chỉ cho nước uống và thực phẩm để dân tị nạn sống tạm qua ngày. Họ chỉ ghé đến trại NW 82 trên đường đi đến Non Chan vào ban ngày rồi buổi chiều là họ đi về.

Tình hình ở trại NW 82 rất mất an ninh. Việt cộng có thể đến tấn công bất cứ lúc nào. Dân chúng thì đông lúc nhúc, chỉ cần một trái pháo kích là đủ chết như rạ vì họsẽ dẫm bừa lên nhau mà chạy thoát thân.

5. Tình trạng thư tín:
Lính Thái phong tỏa, kiểm duyệt và thủ tiêu hầu hết các thư từ ngoại quốc gửi đến. Có người ở trại cả một năm trời mà không hề nhận được một lá thư của thân nhân. Có người thì đến sáu bảy tháng không có thư, nhưng khi nhận thì một lúc có hai, ba cái.

Lính Thái kiểm soát và muốn để “ngâm tôm” cho mất thời gian tính rồi mới giao cho người nhận. Thư có tiền đều bị lính Thái cướp đoạt hết. Do đó, ai cũng nghèo như nhau, quần áo rách tả tơi và hôi như cú.

Về sau, chính sách được nới lỏng. Nếu ai may mắn nhận được 50 đô trong thư thì lính Thái đòi đổi và đưa cho người nhận chỉ có 200 baht, tức là trị giá có 10 đô, còn 40 đô thì chúng ăn cướp tay trên. Rồi chúng đưa địa chỉ của chúng cho dân tị nạn và nói rằng chúng sẽ gởi tiền cho họ sau khi họ lên trại Panatnikhom. Còn nếu là ngân phiếu (check) thì chúng bảo ngân phiếu còn mới quá, chưa đổi ngay được nên ông lớn đưa cho mượn tạm 200 baht. Ai cũng bị chúng ăn cướp, ăn chận kiểu đó. Hiện nay tôi còn giữ địa chỉ của một tên trưởng trại người Thái ấy.

6.Tình trạng vệ sinh:
Vệ sinh trong trại thì dơ bẩn quá sức. Chu vi trại quá nhỏ mà có đến 30 lều san sát và gần 2 ngàn người chen chúc. Cầu tiêu ở sát bên lều nên ruồi bọ lúc nhúc, mùi hôi thối bốc lên khủng khiếp.

Vào mùa mưa thì đất trở nên lầy lội. Mỗi người tị nạn chỉ có một khoảng diện tích nhỏ hơn miếng ván hòm. Trời mưa lạnh đến cắt da, có lẽ vì chúng tôi ăn đói nên cảm thấy lạnh. Đêm đến, gió rừng thổi ào ào nghe như tiếng mưa bão. Thật là sầu thối ruột, buồn áo não.

(Vượt biên đường bộ tìm tự do)

Kim Hà
Về Đầu Trang
Xem lý lịch thành viên Gởi tin nhắn
HongThatCong



Ngày tham gia: 20 2 2005
Bài gởi: 736
Đến từ: California

Bài gởiGởi bởi: Hai 6 18, 2007 3:21 am    Tiêu đề:

Chương II-III Cảm Tưởng Của Ông Lê Bá B


Chúng tôi chỉ ở trại Panatnikhom có bốn mươi lăm ngày rồi phải rời Thái Lan để đến trại Bataan ở Phi Luật Tân vào ngày 22, tháng 3, năm 1983. Chính phủ Thái Lan đã ra hạn với các phái đoàn là họ chỉ muốn chứa dân tị nạn trong vòng 45 ngày ở tại Chonburi mà thôi.

Sau đó chúng tôi ở tại trại Bataan, Phi Luật Tân trong năm tháng. Tại đây có nhiều người Mỹ thiện nguyện đến dạy Anh văn cho dân tị nạn.

Tuy chúng tôi đã được định cư tại California, nhưng chúng tôi vẫn lo lắng và thương xót cho số phận những người tị nạn đường bộ còn bị kẹt lại ở nhà thương Non Samet. hoặc vì họ không thi đậu tiếng Việt, hoặc vì họ đi vượt biên sau khi trại NW 82 đóng cửa.

Số người đến sau lại phải nằm chờ đợi trong suốt những năm tháng dài dằng dặc, trong các trại tị nạn và sống chung với người tị nạn Cambodia, trong điều kiện kém an ninh, mất vệ sinh và mất tất cả những điều kiện sinh sống tối thiểu.

Hiện nay trong những người tị nạn bất hạnh ấy có cả em trai ruột của tôi là Lê văn Hưng. Tôi sẽ cho chị Kim Hà thêm chi tiết về cuộc vượt biên của em tôi. Có điều đáng buồn là hầu như báo chí ở trên thế giới đều tưởng là ở các trại này đã hết người tị nan Việt nam rồi mà chỉ còn có người dân Miên mà thôi.

Tôi rất mong mỏi rằng chính phủ Mỹ cũng như chính phủ các nước tự do sẽ lưu tâm cứu giúp những người tị nạn đường bộ còn ở tại các trại tị nạn như trại Dongrek và Site II.

(Vượt biên đường bộ tìm tự do)
Về Đầu Trang
Xem lý lịch thành viên Gởi tin nhắn
HongThatCong



Ngày tham gia: 20 2 2005
Bài gởi: 736
Đến từ: California

Bài gởiGởi bởi: Hai 6 18, 2007 3:22 am    Tiêu đề:

Chương III. Bài Viết Của Ông Lê Văn Hưng



Ông Lê Văn Hưng: một người tị nạn đường bộ ở các trại Non Chan, Non Samet, Dongrek và Site II.

Lời nói đầu: Anh Lê văn Hưng là em ruột của ông Lê Bá B. Theo lời kể của ông B. thì Lê văn Hưng trước là sinh viên đại học Văn khoa ban Anh văn, năm thứ hai. Sau năm 1975, khi Việt Nam đổi chủ, anh Hưng học hỏi và nghiên cứu về Thiền (Yoga) và Thông Thiên học.

Sau đó, anh Hưng bị bắt và bị nhốt chung với những người bị tù về tội vượt biên ở tại Vũng Tàu. Gia đình Hưng phải lo lót mất năm ngàn đồng Việt để anh được trả tự do. Khi ông B. đi, ông có rủ Hưng đi chung nhưng Hưng không dám đi.

Cuối cùng vì phải trốn tránh và tù tội nhiều nên Hưng mới vượt biên bằng đường bộ sau ông B. Anh Lê văn Hưng đến trại Non Chan ngày 24 tháng 9, năm 1982 và bị nhốt ở trại tù Non Chan. Được ít lâu thì bộ đội Việt nam tổ chức một trận đánh đại quy mô để tấn công Non Chan. Và Non Chan bị đánh tan tành.

Nhân đó, Hưng và các bạn đồng cảnh ngộ phải phá trại tù để chạy bừa đi, nếu không sẽ bị bắn hay bị Việt cộng giải về các nhà tù ở Việt nam. Hưng chạy bừa qua vùng Ancelar, cách đó vài cây số. Sau đó, Hưng được chuyển tới trại Non Samet, ở sát trại NW 82, nhưng lúc ấy trại đã được giải tán rồi.

Sau đó, trại Non Samet bị giải tán và tất cả dân tị nạn ở đây đều bị đẩy lùi vào sâu trong đất Cambodia thêm ba cây số. Tên của trại mới này là Phnom Dangrek or Dongrek.

Ở nơi đây cũng có sự hiện diện của hội HTTQT. Dân tị nạn Việt và Miên bị chở đến trại mới này bằng xe GMC. Có một số người chống cự thì bị lính Thái đánh đập. Còn những người mưu toan trốn đi thì bị bắn chết. Lính Thái còn dọa là sẽ trả họ về biên giới Việt nam. Đó là một điều đáng sợ vì họ có thể chết dưới lằn đạn ở vùng biên giới.

Hiện nay, sau năm năm trời sống triền miên trong đau khổ và tủi cực, anh Lê văn Hưng đã định cư ở Orange County, California vào năm 1987. Anh có sưu tầm rất nhiều hình ảnh và tài liệu về các trại tị nạn mà anh đã sống qua. Anh Hưng đã cho phép Kim Hà sử dụng các bài viết của anh và hình ảnh để giúp cho tập hồi ký chung của người tị nạn được phong phú và đa dạng hơn.

Ngoài ra, Ông Lê bá B. đã cho phép Kim Hà đăng lá thư kể lại chuyến vượt biên nguy hiểm của anh Lê văn Hưng, do chính anh Hưng viết gửi cho gia đình. Anh Hưng viết dưới dạng kể chuyện về một người tên Lê.

(Vượt biên đường bộ tìm tự do)

Kim Hà
Về Đầu Trang
Xem lý lịch thành viên Gởi tin nhắn
HongThatCong



Ngày tham gia: 20 2 2005
Bài gởi: 736
Đến từ: California

Bài gởiGởi bởi: Hai 6 18, 2007 3:23 am    Tiêu đề:

Chương III-1. Cuộc Hành Trình Gian Khổ

Non Samet ngày 28, tháng 7, 1983.

Khởi hành từ Sàigòn vào sáng sớm, Lê đáp xe đò tại xa cảng miền Tây để đi Châu Đốc. Xế chiều thì đến nơi. Đoạn đường đi cũng khá vất vả: nhiều ổ gà và nắng nôi... Trọ một đêm tại nhà một người quen của người dẫn đường. Chiều hôm sau đi đò ngang qua Tân Châu rồi đi xe lôi đến bến đò Tân Châu.

Từ đây, đò nhỏ sẽ đưa khách ra đò máy neo giữa sông. Đến gần đêm đò mở máy đi về hướng Nam Vang sau khi chất đầy hàng hóa. Đò đã vượt nhiều trạm xét để tránh né sự kiểm soát nguy hiểm. Lê chỉ biết là mình đã vào lãnh thổ Miên khi nghe người lính xuống xét đò nói bằng tiếng Miên trong đêm tối.

Khoảng 10:00 giờ sáng hôm sau thì đò tiến vào địa phận Nam Vang. Từ xa đã thấy mái ngói đỏ của Thành ông vua, tức là dinh của Hoàng tử Sihanouk xưa kia. Trong suốt cuộc hành trình trên sông, Lê phải vấn khăn mà người Miên gọi là Kroma hay kàma để che mặt và nằm co quắp lại cho giống một đứa trẻ hầu cho công an chìm không nhận diện được.

Bốn người dẫn đường và Lê đi xe lôi qua cầu Sàigòn, tên một cầu lớn ở Nam Vang, về ở nhà một người quen của các người dẫn đường khoảng năm ngày để chờ đường xá êm và chờ có xe để đi Battambang. Đường đi Battambang cũng hư nát nhiều chỗ, nên xe chạy bị xóc, đi hết một ngày tròn mới đến nơi.

Tại bến xe, bọn Công an chìm của Miên đầy rẫy nên rất dễ bị bắt. Phải lên xe, xuống xe, nói chung là phải hành động thật ăn khớp với dấu hiệu của người dẫn đường. Tiếng Việt trong lúc ấy thật nguy hiểm, khi tối cần thiết mới dùng đến mà phải nói thật nhỏ, thật kín đáo. Còn tất cả phương tiện thông tin là ánh mắt và dấu hiệu bằng tay. Cứ như là một phim trinh thám.

Xuống khỏi xe đò, len lỏi trong đám đông rồi phóng lên một xe lôi thật nhanh, đi về nhà một người quen của các người dẫn đường. Chờ đến tối mới về nhà của họ ở sâu trong rẫy.

Trong khi chờ đợi, Lê xin chủ nhà đi tắm cấp tốc để tẩy đi cả kí lô đất bụi và mồ hôi bám trên người. Tối đến, mẹ của người dẫn đường, độ 70 tuổi, ra dẫn Lê về nhà họ. Vì đường đi mất an ninh, Lê phải ở đó cả nửa tháng. Thật bực bội! Ăn rồi phải bó chân trong một căn buồng cỡ ba thước vuông trên nhà sàn cất theo lối người Miên. Khi muốn tắm và đại tiện thì phải chờ đến tối mới được xuống nhà sàn và ra ngoài, nhưng phải thật lẹ!

Đến ngày đi, cả nhà thức dậy sớm, lo hóa trang cho Lê bằng cách bôi lọ nồi lên mặt cho đen bớt, rồi họ chỉ cho Lê cách vấn khăn cho đúng và cách xức bùa. Xong Lê lội ruộng ra bến xe Battambang cùng với bà cụ 70 tuổi và hai người cháu của bà.

Cuộc mạo hiểm đến giai đoạn này gay go hơn trước. Thường thì người tị nạn bị bắt ở đây. Đi xe đò từ Battambang đến Swai, Sisophon. Tới bến xe Swai, đi xe ngựa, vào một con đường núi, có nhà dân rải rác hai bên đường.

Theo chương trình, bọn người dẫn Lê có hẹn với một người đánh xe bò khác tại khúc đường rầy, nên cả bọn vào một quán nước nhỏ bên lề đường để chơ đợi. Người dân chung quanh nhìn Lê một cách tò mò, soi mói đến rợn tóc gáy! Thật không ổn, người cháu trai bèn dẫn Lê vào một bụi rậm trong ruộng, bảo ngồi nấp ở đó, chờ y trở lại. Nếu y muốn bỏ rơi Lê lúc đó thì thật dễ như trở bàn tay!

Ngồi đó khá lâu mà không thấy y trở lại, Lê bắt đầu lo. Bất chợt một người đàn ông từ xa rẽ bụi rậm tiến ngay lại nơi Lê nấp. Y bảo Lê đứng dậy và theo y. Thế là xong! chắc về Chí Hòa quá(Chí Hòa là nhà tù ở Sàigòn, Việt Nam). Nhưng về đến nhà, y bảo Lê nằm trên bộ ván ngựa và ngủ đi. Còn y sẽ đi canh bắt người dẫn đường và giao họ cho công an vì những người này, theo y, đã bỏ rơi Lê. Đứa con gái của y, trông cũng dễ thương và nhí nhảnh, nhưng khá lễ phép, cười trấn an Lê và ra dấu bảo không sao đâu.

Khoảng một tiếng sau, người đàn ông ấy dẫn các người dẫn đường về. Hai bên bàn bạc với nhau bằng tiếng Miên. Người đàn ông ấy là người Chàm, ông ta bằng lòng che dấu Lê, chờ đến tối Lê sẽ lên đường.

Theo sự thỏa thuận từ trước, Lê chỉ đưa tín hiệu về khi nào tới trại và chụp hình gửi về kèm với tín hiệu để gia đình Lê đưa tiền. Nhưng tới đây, người cháu trai của bà cụ 70 tuổi phân trần, nài nỉ Lê viết tín hiệu, và nói lần trước gia đình người anh của Lê cũng đưa tín hiệu tại một làng Miên chứ chưa tới trại tị nạn. Quan trọng là tin tưởng nhau và uy tín của lần trước đủ để bảo đảm cho lần này. Sau khi cân nhắc lợi hại và kèm theo một chút liều, Lê đành viết tín hiệu.

Người cháu trai ấy bảo Lê sẽ đi theo hai người Khmer khác, còn y sẽ đạp xe đạp theo một đường khác công khai, vì y biết tiếng Miên. Y nói là vào sáng hôm sau, Lê sẽ vào trại người Miên ở một ngày, hôm sau y sẽ thuê người dẫn Lê đến trại người Việt. Tại đó, Lê sẽ được phát quần áo, bàn chải đánh răng và khăn.

Đến tối, trời mưa lất phất, Lê theo hai người thanh niên Khmer khác lần mò xuống ruộng nước. Khi thì Lê phải bương theo đám cỏ gai và cây mắc cở. Chân tay bị đâm nát bấy, có lúc phải bị dính lùng bùng trong ấy rất lâu mới gỡ ra được. Khi thì Lê phải lội qua nơi nước sâu qúa đầu, Lê lại không biết bơi, phải bám vào một cái thùng bằng nhựa để cố gắng bám theo hai người Khmer ấy.

Trong đoạn đường lội nước đó, Lê uống nước sình khá nhiều và bị đỉa đeo cũng dữ. Lê không quen đi trên bờ ruộng trơn trợt. Hơn nữa, đêm tối đen như mực, tay giơ lên không thấy, nên Lê té lên té xuống nơi ruộng sình lầy hàng trăm lần. Hai ống quyển bị va vào các ụ mối nhỏ trên bờ ruộng đau đến tê tái.

Có lúc Lê phải lội qua những cánh đồng cỏ ngập nước, cỏ ba khía bén như dao cạo đã cứa nát các kẽ ngón chân. Các bắp thịt ở háng và hông đã rã rời, không còn tính dẻo dai nữa, cho nên cử động rất khó khăn. Có lúc Lê phải đi ngang như cua, có lúc đi giống một người què, có lúc không cất nổi chân lên một độ cao chỉ mười phân. Lê bị vướng vào cỏ, té nhào xuống, không muốn ngồi dậy nữa.

Chàng cứ thế mà nằm dụi xuống dưới lớp bùn, nếu không có sự thúc hối của hai tên dẫn đường. Bộ não không còn làm việc, chỉ còn một ý tưởng duy nhất trong đầu là: ”Gắng đi tới!”

Đêm thì mù mịt, không biết bao giờ mới sáng. Nhưng không hiểu lúc ấy Lê mong sáng để làm gì? Vấn đề không phải là sáng hay tối, mà là chấm hết con đường. Trong khi ruộng nước bao la, đi hoài không thấy hết. Xỉu lên xỉu xuống cả trăm lần, hai tên dẫn đường có khi phải xốc nách Lê mà lôi đi.

Sức đã kiệt! Nhiều lúc trên đường đi, Lê không dám nghĩ rằng mình có thể vượt qua sự thử thách kinh khủng này, rằng mình có thể đi hết con đường tị nạn. Hai tên dẫn đường đi rất nhanh, cứ bỏ xa Lê hàng chục thước trong đêm tối. Lâu lâu, Lê phải ngồi thụp xuống, căng mắt ra để cố phân biệt hai bóng đen mờ, nhấp nhô của hai tên dẫn đường với các bóng cây in trên nền trời mờ mờ xám.

Quan sát thái độ ấy của hai tên Khmer, một ý nghĩ đến với Lê lần thứ hai làm tim chàng co thắt lại:

”Cứ cái đà này thì chúng sẽ bỏ rơi mình!”

còn tiếp...
Về Đầu Trang
Xem lý lịch thành viên Gởi tin nhắn
Trình bày bài viết theo thời gian:   
Gởi bài mới   Trả lời chủ đề nầy    Diễn Đàn MẪU TÂM -> 40 NĂM NGƯỜI VIỆT VIỄN XỨ Thời gian được tính theo giờ Việt Nam PST (U.S./Canada)
Chuyển đến trang Trang trước  1, 2, 3, 4 ... 11, 12, 13  Trang kế
Trang 3 trong tổng số 13 trang

 
Chuyển đến 
Bạn không có quyền gởi bài viết
Bạn không có quyền trả lời bài viết
Bạn không có quyền sửa chữa bài viết của bạn
Bạn không có quyền xóa bài viết của bạn
Bạn không có quyền tham gia bầu chọn
|   Register   |   Tin nhắn riêng   |   Đăng Nhập

Powered by -php_BB- Copyright © mautam.net, 2005. All Rights Reserved