Hồi Ký TÔI TÌM TỰ DO
Chuyển đến trang Trang trước  1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9  Trang kế
 
Gởi bài mới   Trả lời chủ đề nầy    Diễn Đàn MẪU TÂM -> 40 NĂM NGƯỜI VIỆT VIỄN XỨ
Xem chủ đề trước :: Xem chủ đề kế  
Tác giả Thông điệp
HongThatCong



Ngày tham gia: 20 2 2005
Bài gởi: 736
Đến từ: California

Bài gởiGởi bởi: Hai 7 02, 2007 2:37 am    Tiêu đề:

29

Tối hôm đó, chúng tôi nghỉ lại nhà của ông Quy và nghe ông kể về những bi kịch gia đình ông đã trải qua trong suốt thời gian từ 1965 cho đến 1975. Từ những chết chóc của những người thân trong gia đình ông cho đến những mất mát vô phương hàn gắn của làng xóm nơi ông ở. Nghe chuyện của ông, tôi biết rằng, trong suốt thời gian mấy chục năm qua, trên quê hương Việt Nam, những mất mát của ông cũng là mất mát chung của hàng triệu gia đình Việt Nam. Và mất mát nào cũng đau khổ, bi thương, đầy máu và nước mắt. Nhưng có điều lạ lùng, trước những mất mát tang thương đó, ông Quy không hề "căm thù Mỹ ngụy" như phần đông những người dân Miền Bắc bị cộng sản tuyên truyền. Có lẽ cuộc sống của ông ở Lào, cùng những chuyến đi buôn bán ở bên kia biên giới và mối quan hệ với người Thái Lan đã giúp ông nhìn ra bản chất của cuộc chiến tranh Việt Nam là cuộc xâm lăng của cộng sản Miền Bắc đối với Miền Nam. Chúng tôi còn ngạc nhiên hơn khi ông cho biết, tương lai người dân Việt Nam còn khốn khổ dài dài, vì cả nước sẽ phải "thắt lưng buộc bụng" để lấy gạo trả nợ cho Trung cộng. Ông cũng kể cho chúng tôi nghe, trong thời gian chiến tranh, khi Trung Cộng không còn viện trợ gạo cho Hà Nội, cả làng của ông đã phải làm những vỏ bao gạo giả có in chữ Trung Cộng, để giữ cho lòng người Miền Bắc khỏi hoang mang như thế nào. Ông Quy cũng tâm sự với chúng tôi về những ân hận hối tiếc của cha mẹ của ông khi nghe lời tuyên truyền của cộng sản, cho gia đình "hồi hương xây dựng đất nước". Ông Quy sống không vợ con. Chỉ một thân một mình lủi thủi cùng với một con chó mực và cả một quá khứ đau xót, đầm đìa nước mắt và kỷ niệm lúc nào cũng trĩu nặng trên hai vai. Ông Quy chỉ là người thiểu số, nhưng với sự từng trải và hiểu biết, ông đã đoán ra chúng tôi là ai ngay khi gặp chúng tôi trong quán ăn.

Hôm nay, tôi viết những dòng chữ này về ông Quy vì tôi muốn gửi gắm tới qúy độc giả một sự thực, ở Miền Bắc, trong cuộc sống khốn khổ, thiếu thốn và đói khát, lại bị cộng sản tuyên truyền nhồi sọ ngày đêm, nhưng vẫn có rất nhiều người, rất nhiều tấm lòng không hề bị nhuộm đỏ. Những người đó vẫn hướng tới Miền Nam tự do với lòng hy vọng trong suốt 20 năm. Rất tiếc, vì đất nước mình nhỏ bé, nên bị nhào nặn trong bàn tay nghiệt ngã của định mệnh, nên sau 20 năm chiến tranh, cuối cùng cộng sản chiếm được Miền Nam, khiến cho mọi hy vọng được người dân Miền Bắc âm thầm ấp ủ suốt thời gian dài, cuối cùng đều tan vỡ...

Tuy thời gian nghỉ lại nhà ông Quy chỉ có một đêm, nhưng không hiểu sao từ đó cho đến nay, suốt mấy chục năm trôi qua, tôi vẫn nhớ đến ông, nhớ đến chiếc điếu cầy ông hút, nhớ những nấm mồ bên cạnh nhà, trong đó có nấm mồ trồng đầy hoa mười giờ mà trong lòng một thì trống không. Tôi không biết đến bây giờ, trong lòng ngôi một đó đã có được chiếc quan tài, ấp ủ thân xác người em gái của ông hay chưa, hay chiếc máy bay nhỏ kỷ vật xưa, vẫn còn cô đơn trên chiếc kệ tre ở góc nhà...

*

Khoảng trung tuần tháng 5, chúng tôi đến Hà Nội an toàn. Mặc dù suốt chặng đường từ Vinh ra đến Hà Nội, chúng tôi bị hỏi giấy tờ nhiều lần, nhưng lần nào cũng trót lọt. Với khoa học kỹ thuật của Miền Nam, những giấy tờ giả mạo do Bình làm đã qua mắt dễ dàng mạng lưới an ninh của Miền Bắc.
Khi chuyến tàu tiến vô ga Hàng Cỏ, Hà Nội, tôi rất nôn nóng, muốn chắp cánh bay ngay về nhà của mẹ tôi. Tôi không biết trong mấy năm qua, cuộc sống của mẹ tôi ra sao. Vì trong những năm tháng ở Miền Nam tự do, tôi đã công khai viết bài tố cáo những tội ác của chế độ cộng sản; đã lên đài kể lại những bi kịch do cộng sản gây ra trên quê hương Miền Bắc; với tất cả tên tuổi thật, địa chỉ thật của mình, nên tôi biết, khi tôi trở lại Miền Bắc, tôi sẽ phải đối diện với rất nhiều nguy hiểm. Tôi biết, tôi không thể về thẳng quê nhà và cũng không thể về ngay nhà của mẹ tôi.

Trải qua nhiều chục năm, chế độ độc tài chuyên chế của cộng sản tại Hà Nội đã tạo nên cả một mạng lưới an ninh bao trùm đời sống của người dân, thâm nhập vô mỗi gia đình, nên không một ai dám tin ai, ngay cả bằng hữu, ruột thịt trong nhà. Thêm vào đó, cuộc sống thiếu thốn trăm bề, đói khát kinh niên của người dân Miền Bắc phải thường xuyên và vĩnh viễn tùy thuộc vào chế độ tem phiếu của nhà nước, đã khiến cho mỗi gia đình, mỗi người lúc nào cũng nơm nớp lo sợ, không dám làm trái ý đảng, trái ý nhà nước để rồi mang họa đến cho những người thân yêu. Vì vậy, có thể nói, sau 30 tháng 4 năm 1975, trong những năm tháng phải sống ngoài vòng pháp luật, bị săn đuổi như một con thú, tôi luôn luôn thấy bình an, tự tin như cá bơi trong nước, khi tôi được ở trên lãnh thổ của Miền Nam. Trái lại, trên đất Bắc, tôi luôn cảm thấy lo sợ, hoảng hốt như cá bị mắc cạn.

Ngay cả sau này, khi trốn khỏi trại cải tạo Kà Tum, trên đường trở về Sàigòn, tôi luôn luôn được gặp những tấm lòng vàng của người dân Miền Nam. Mỗi khi gặp hoạn nạn, tôi nói thật tôi là tù cải tạo trốn trại, lập tức tôi được mọi người giúp đỡ tận tình, không nề hà nguy hiểm đến bản thân. Tôi còn nhớ, khi vừa trốn khỏi trại cải tạo, đi bộ suốt đêm về đến thị trấn Dầu Tiếng vào buổi sáng sớm tôi có ghé một quán nước cách bến xe khoảng vài trăm thước. Khi được tôi cho biết, tôi là tù cải tạo trốn trại, cô chủ quán đã nhất định không chịu lấy tiền tô phở và ly cà phê. Không những thế, cô còn cho tiền và chỉ cho tôi cách đón xe đò về Bình Dương, khỏi bị công an xét hỏi. Cô khuyên tôi đừng có vô bến xe, mà nên đứng đợi ở dọc đường rồi vẫy xe đò.

Rồi khi tôi lên được xe đò, vì mới trốn trại, không có bất cứ giấy tờ gì, mà trạm kiểm soát ở Bến Cát thì vô cùng nguy hiểm, nên trong nỗi lo sợ, tôi đánh liều nói thật cho mấy chị đi buôn ngồi cạnh biết tôi là tù cải tạo vừa trốn trại. Nghe xong, các chị liền nói bô bô cho tất cả mọi người trong xe biết. Lập tức cả chiếc xe đò nhốn nháo, mỗi người mỗi ý, ai ai cũng muốn giúp đỡ tôi. Lúc đó tôi nhớ là vừa nghỉ hè, nên có mấy nam nữ giáo viên, tuổi còn rất trẻ trên xe. Sau một hồi bàn bạc rôm rả, ầm ĩ của tất cả mọi người, kể cả tài xế lẫn lơ xe, tôi được các bà đẩy vào tận phía trong cùng ngồi, rồi các bà bắt tôi phải cởi áo ngoài, chỉ mặc có một chiếc áo lót lấm lem dầu mỡ của người lơ xe. Kế đó, tôi được một chị trao cho một em bé khoảng trên dưới một tuổi, bắt tôi phải bế, kèm theo một bình sữa. Mọi người dặn tôi, khi đến Bến Cát, cứ ngồi nguyên trên xe, để các bà các cô lo liệu. Sau đó, các chị còn chuẩn bị sẵn "tiền lì xì" để dúi tay mấy nhân viên an ninh nếu chúng nó muốn làm khó dễ... Tôi ngoan ngoãn làm theo sự chỉ dẫn của mọi người, và trong thời gian chớp nhoáng, tôi cảm thất thật an toàn và tự tin trong tấm lòng của người dân Miền Nam. Quả nhiên, khi đến Bến Cát, cửa sau xe mở ra, bóng vài người bộ đội đeo súng AK vừa thấp thoáng, đã bị các bà các cô xúm xít "đon đả chào đón tận tình", nên chẳng một tên bộ đội nào thèm hỏi giấy tờ của tôi....

Ngồi sâu trong xe, một tay bồng em bé khóc oe oe, tay kia cầm bình sữa cố nhét vô miệng để dỗ cho đứa bé nín, tai nghe các bà các cô đưa mấy anh cán ngố vào xiếc một cách dễ dàng, tôi mới nhận ra, người phụ nữ Việt Nam, bất kể họ là ai, già hay trẻ, cũng đều thông minh tuyệt vời, và sẵn sàng hy sinh để cứu vớt những kẻ cô thế, đùm bọc những người gặp hoạn nạn. Hãy nói thật với họ những nguy hiểm bạn đang đối diện, những khó khăn bạn đang gặp phải, chắc chắn bạn sẽ được giúp đỡ tận tình, dù họ là mẹ, là vợ, là chị em của bạn, hay chỉ là một người dưng tình cờ gặp gỡ ở một nơi nào đó... Đối với người phụ nữ Việt Nam, bạn đừng bao giờ nói dối họ, thì bạn sẽ không bao giờ gặp hoạn nạn, khó khăn, hay khổ đau...

Xế trưa hôm đó, khi xe về đến thị xã Bình Dương, mấy thầy cô giáo còn mời tôi một bữa ăn ngon lành. Trong khi tôi ăn, các cô giáo còn xách mấy bao gạo được nhà trường trả lương, đem đi bán, lấy tiền đưa cho tôi. Cầm tiền của các cô, tôi ứa nước mắt vì xúc động... và tôi không nói nên lời. Từ đó đến nay, trong suốt mấy chục năm trời, tôi vẫn nhớ mãi những con người với tấm lòng vàng mười trên chuyến xe đó từ Dầu Tiếng về Bình Dương. Tuy chẳng nhớ rõ được một gương mặt nào, một cái tên gọi nào, hay một địa chỉ nào, nhưng mỗi khi nhớ đến những kỷ niệm của ngày đó, tôi vẫn thấy trinh nguyên những bóng dáng ấy, những bàn tay ấy, thấp thoáng trong tâm trí, cùng với những xúc động cũng vẫn trinh nguyên như thuở nào của 31 năm về trước....
Về Đầu Trang
Xem lý lịch thành viên Gởi tin nhắn
HongThatCong



Ngày tham gia: 20 2 2005
Bài gởi: 736
Đến từ: California

Bài gởiGởi bởi: Hai 7 02, 2007 2:38 am    Tiêu đề:

30

Mẹ của tôi sống rất nghèo và cô đơn trong một căn nhà chật chội, nằm trong một căn hẻm nhỏ ở Hà Nội. Như tôi đã thưa chuyện cùng các bạn, khi Mẹ của tôi ghé thăm tôi năm tôi mới lên 7, lên 8 tuổi, tôi đã không chịu nhận Mẹ, không chịu gọi Mẹ một tiếng "Mẹ ơi!", chỉ vì tôi bị những người lớn sống trong cùng một gia đình tiêm nhiễm vào đầu óc tôi đủ thứ chuyện, nên tôi tin Mẹ của tôi đã bỏ tôi khi tôi còn đỏ hỏn.... Trong những năm tháng sau này, và ngay cả đến bây giờ, hình ảnh Mẹ của tôi đi trong buổi trời chiều, khi gió lộng thổi, mặt nước sông sóng vỗ từng đợt, vẫn còn để lại trong lòng tôi những nỗi xúc động trinh nguyên của ngày nào. Cùng với thời gian, trải qua những va chạm trong cuộc sống, và nhất là qua những lời kể của thầy, tôi dần dần hiểu được những hoàn cảnh éo le, đau khổ đến quằn quại, ướt đẫm nước mắt mà Mẹ đã phải chịu đựng khi yêu thầy của tôi, khi mang bầu tôi và khi sanh ra tôi. Chính trong nỗi niềm đầy ân hận và xót xa thương cảm dành cho Mẹ, sau này tôi đã cố gắng tìm Mẹ, nhưng không thành công. Cuộc sống thiếu thốn, đói khổ ở Miền Bắc, đối với một người con trai nhỏ bé như tôi, ngay đến củ khoai hà, ngọn rau muống còn là sự khao khát, thèm thuồng, thì làm sao tôi có đủ điều kiện và tiền bạc để đi tìm Mẹ.

May mắn, đến năm 16 tuổi, tôi tình cờ quen một người bạn học, quê ở thị xã Phủ Lý. Thân phụ của người bạn, từng trọ học ở nhà tôi trong những năm trước 1945, nên qua câu chuyện với một số bạn bè ở quê ngoại của tôi, người bạn đó biết được Mẹ ruột của tôi có một người con với cụ Xếp Văn là thầy của tôi. Từ những câu chuyện tình cờ giăng mắc với những người bạn, con cháu của bên ngoại, những buổi gặp gỡ xa gần xúc động đầy nước mắt, cuối cùng tôi biết Mẹ của tôi đang sống ở Hà Nội. Trong những năm tháng đó, máy bay Mỹ thường xuyên ném bom Miền Bắc, nên trường học của tôi phải "sơ tán" về vùng thôn quê ở gần Đọi Đệp, là quê ngoại của tôi. Hà Nội lúc đó đang là mục tiêu đánh phá của máy bay Mỹ, nên tôi không biết làm cách nào để kiếm ra tiền đi thăm Mẹ; và không biết Mẹ có còn sống ở Hà Nội hay đã đi "sơ tán"... Biết được những khó khăn, thiếu thốn của tôi, một số người bạn học đã gom góp tiền đưa cho tôi, rồi sẵn sàng cho tôi mượn xe đạp để tôi đi thăm Mẹ. Ôi, những tấm lòng đầy ân nghĩa của tình bạn tuổi học trò... khiến tôi nhớ mãi. Trong suốt những năm tháng sau này, mỗi khi nhớ đến những nghĩa cử đó, tôi lại thấy bồi hồi rung cảm. Thì ra, trong cuộc sống, càng thiếu thốn, khốn khó bao nhiêu, con người càng có cơ hội thể hiện lòng nhân ái nhiều hơn, yêu thương nhau hơn, hy sinh cho nhau nhiều hơn.

Giữa lúc tôi đang chuẩn bị đi thăm Mẹ, thì một ngày nọ, vào giữa buổi trưa hè nắng oi ả, Mẹ của tôi đến trường thăm tôi. Phần ngại hoàn cảnh trọ học của tôi, phần có lẽ Mẹ của tôi có những nỗi ngại ngùng riêng tư nào đó, tôi không biết, Mẹ từ chối không chịu vào nhà trọ của tôi. Vì vậy, tôi theo Mẹ ra một bụi tre cạnh bờ sông Châu, và tại đó, hai Mẹ con tôi tâm sự... Cho đến hôm nay, tôi vẫn không nhớ rõ, trong buổi gặp gỡ đó, Mẹ của tôi đã nói những gì, tôi đã nói những gì, nhưng tôi chỉ nhớ mãi có một điều, trong buổi tâm sự trưa hôm đó, Mẹ chỉ có khóc.... Mẹ tôi khóc hoài, khóc không thành tiếng, nhưng nước mắt của Mẹ cứ ứa ra, chảy dài trên hai gò má... Mẹ lấy khăn lau, nhưng lau vừa xong là nước mắt lại giàn giụa... Bây giờ, khi ngồi viết những dòng chữ này, hình ảnh Mẹ của tôi với những dòng nước mắt và cặp mắt giàn giụa nỗi thương đau vẫn hiện về rõ rệt như ngày nào tôi đang ngồi trước mặt Mẹ... Lúc đó, tôi muốn được gục vào lòng Mẹ của tôi mà thổn thức, tôi muốn ôm lấy Mẹ để khóc oà lên như những người con khi gặp mẹ mà tôi vẫn thấy trong phim hay tôi thường tưởng tượng khi đọc truyện. Vậy mà không hiểu sao, trong lòng thì muốn vậy, nhưng tôi không làm được như vậy... Tôi ngồi đó, đau xót và bất lực nhìn Mẹ của tôi khóc... bằng cặp mắt ráo hoảnh của mình, để rồi ngay tối hôm đó, và từ đó về sau, mỗi khi nhớ tới những giọt nước mắt của Mẹ vào buổi trưa hè bên giòng sông Châu, tôi lại rưng rưng lệ... trong niềm xúc cảm sâu lắng. Ngay cả bây giờ, khi ngồi đánh máy những dòng chữ này vào buổi sáng của ngày Thứ Tư, sau một đêm dài thức trắng, nỗi niềm xúc động trong lòng tôi dành cho Mẹ vẫn như ngày nào của ngót 40 năm về trước...

Trong những năm tháng sau đó, tôi và bạn bè của tôi thường xuyên ghé thăm Mẹ vào dịp nghỉ hè. Tuy những dịp thăm viếng Mẹ như vậy không nhiều, mỗi năm chỉ một, hoặc hai lần, nhưng tôi được sống những giờ phút thật hạnh phúc của một người con có Mẹ, được Mẹ chăm sóc. Tôi còn nhớ, có những buổi sáng sớm, tôi thức dậy, nhưng vẫn nằm trong giường đọc sách. Khi Mẹ bước vô, sợ Mẹ la đọc sách trong mùng, nên tôi giả vờ nằm ngủ... Khi đó, tôi thấy bóng dáng thấp thoáng của Mẹ, đi ra đi vô, dọn dẹp đồ đạc trong phòng, hay chuẩn bị đồ ăn sáng cho tôi...

Tuy được sống trong hạnh phúc của tình Mẫu Tử, tôi ít khi tâm sự với Mẹ, ít khi ngồi nghe Mẹ kể chuyện... vì mỗi khi Mẹ tôi trò chuyện với tôi là Mẹ lại khóc. Không hiểu từ bao giờ, bắt đầu từ lúc nào, nhưng đã lâu lắm, ngay từ khi mới được đoàn tụ với Mẹ không lâu, tôi đã có ấn tượng, cuộc đời của Mẹ là cả một giọt nước mắt khổng lồ, là những giòng nước mắt nối nhau chảy bất tận... Từ cuộc đời khốn khó đầy đau thương và nước mắt của Mẹ, tôi đã trưởng thành, bước vào đời với một tấm lòng đa sầu, đa cảm, dễ "thương vay, khóc mướn" trước những đau khổ của người dưng, của nhân thế. Tôi hiểu được muôn vàn nỗi khó khăn chật vật, cùng những khổ đau, hy sinh tận tụy của những người vợ, người mẹ Việt Nam dưới muôn vạn mái nhà, trên muôn vạn nẻo đường của đất nước. Tôi xót xa trước những đắn đo mua sắm từ bó rau, con cá, những thao thức giật gấu vá vai, thu vén gia đình, cho chồng con hạnh phúc, của hàng triệu người mẹ, người vợ Việt Nam, sống trong thiếu thốn đói khổ, chịu đựng muôn phần cơ cực tại hàng vạn vạn làng quê Miền Bắc...

Qua cuộc đời đầy éo le và nước mắt, cô đơn và xót xa của Mẹ, tôi hiểu được những oan trái khổ đau người phụ nữ Việt Nam thường phải gánh chịu từ khi lớn lên cho đến khi yêu đương, được làm vợ, làm mẹ. Thêm vào đó, văn hóa Việt Nam, đạo lý vợ chồng của nền văn minh cửa Khổng sân Trình, quan niệm chồng chúa vợ tôi, cộng với đời sống thiếu thốn trăm bề của gia đình Việt Nam, đã khiến người phụ nữ Việt Nam phải gánh chịu thêm nhiều hy sinh, đau khổ... so với phụ nữ ở các quốc gia khác. Qua những trang sách tả thực của Ngô Tất Tố, Nguyên Hồng, Vũ Trọng Phụng, Hồ Dzếnh, Mai Thảo, Nhã Ca, Võ Phiến, Doãn Quốc Sỹ... tôi thấy lòng mình thực sự rung động, trước những thân phận éo le của các nhân vật, điển hình cho nỗi khổ đau chồng chất và muôn phần đa dạng của người phụ nữ Việt Nam...

Trong những năm tháng sau 30-4-1975, cùng với sự chiếm đóng Miền Nam, người cộng sản còn gieo rắc lên muôn vạn mái nhà, muôn vạn cuộc đời phụ nữ Miền Nam hàng triệu nỗi khổ đau, trong đó có nỗi khổ đau chờ chồng, nuôi chồng trong trại tù cải tạo. Sau này, khi đọc bài thơ Ta Về của nhà thơ Tô Thùy Yên, tôi đã vô cùng xúc động khi đọc tới đoạn mô tả tình cảm của tác giả, một người đi tù cải tạo sau 10 năm trở lại nhà, dành cho người vợ thương yêu, đầu gối tay ấp, thủy chung chờ chồng:

Ta gọi thời gian sau cánh cửa
Nỗi mừng giàn giụa mắt ai sâu
Ta nghe như máu ân tình chảy.
Tự kiếp xưa nào tưởng lạc nhau.

Ta về dầu phải đi chân đất
Khắp thế gian này để gặp em
Đau khổ riêng gì nơi gió cát
Thềm nhà bụi chuối thức thâu đêm.

Mấy năm trước, khi lần đầu được đọc bài thơ Ta Về, trong lòng tôi vừa xúc động, vừa biết ơn thi sĩ Tô Thùy Yên vô cùng, vì những câu thơ của ông đã đánh thức trong lòng tôi những xúc cảm kỳ diệu của tình yêu thương, lòng tri kỷ, sự hy sinh... dành cho nhau trong tình vợ chồng khi ly biệt. Câu thơ "Nỗi mừng giàn giụa mắt ai sâu" có một sức mạnh gợi tưởng huyền diệu, giúp người đọc thức ngộ được những giao thoa kỳ diệu của nỗi đau với niềm vui, của ly biệt với đoàn tụ, của khổ đau với hạnh phúc... Rồi trong khổ thơ sau, thi sĩ Tô Thuỳ Yên cũng giúp người đọc, nhất là những người tù cải tạo, hiểu được những khổ đau chất ngất, những thao thức, trăn trở bất tận của những người vợ có chồng đi tù cải tạo: "Đau khổ riêng gì nơi gió cát. Thềm nhà bụi chuối thức thâu đêm." (Còn tiếp...)
posted by Lien Mang Viet San @ 11/01/2006 12:53:00 AM





Thức Ngộ & Niềm Tin


Hữu Nguyên

Suốt thời gian dài trên dưới 20 năm, ấp ủ trong niềm tin Mặt Trận trước sau như một theo đuổi mục tiêu lật đổ cộng sản, quang phục quê hương, nhiều người Việt hải ngoại đã một lòng một dạ ủng hộ Mặt Trận về tài chánh, nhân lực, ý chí, tinh thần... Trong suốt những năm tháng đó, nhiều người có tâm huyết trong cộng đồng đã chung vai sát cánh cùng anh em Mặt Trận, chấp nhận không biết bao nhiêu khó khăn, nguy hiểm, thiệt thòi, chia sẻ không biết bao nhiêu niềm vui nỗi buồn; sẵn sàng gạt bỏ ngoài tai mọi lời dị nghị, mọi tin tức bất lợi về Mặt Trận. Thậm chí, trong niềm tin tuyệt đối vào Mặt Trận, cùng tình chiến hữu thân thiết với các đoàn viên Mặt Trận ở các cấp cơ sở, nhiều người đã coi tất cả những tin tức bất lợi về Mặt Trận là những tin tức thất thiệt do những kẻ phá hoại gây ra...

Giữa lúc nhiều người nhắm mắt, bịt tai, khư khư tin tưởng vào Mặt Trận như vậy, thì bỗng nhiên, đầu năm 2006, BS Trần Xuân Ninh, nhân vật lãnh đạo cao cấp và có uy tín nhất trong Mặt Trận, thổi lên "hồi còi" báo động về sự "chệch hướng" của Trung Ương Đảng 5 Việt Tân. Lúc đó, người Việt hải ngoại mới giật mình nhận ra, những lời tố cáo, dị nghị, những tin tức bất lợi về Mặt Trận không phải là không có lý. Từ đó, mọi người mới nhớ lại các sự việc, các lời tuyên bố, móc nối các tin tức, phân tích các dữ kiện chìm nổi trong suốt thời gian qua, để rồi dần dần thức ngộ ra sự thực: Sự "chệch hướng" của TƯĐ 5 Việt Tân không phải là một biểu hiện ngẫu nhiên, mới xảy ra, và thuần tuý xuất phát từ những dị biệt trong đường lối đấu tranh, mà thực sự là cả một âm mưu có tính toán được TƯĐ Việt Tân âm thầm thực hiện trong nhiều năm, nếu không nói là hàng chục năm, nhằm biến Mặt Trận, một đảng đấu tranh cách mạng chống cộng sản, trở thành một tổ chức xã hội kinh tài, VÔ TÌNH hậu thuẫn cho quyền lợi của cộng sản tại hải ngoại.

Từ những thao túng trong cuộc bầu cử dẫn tới việc công khai hô hào đòi người Việt hải ngoại về VN trình diễn văn nghệ, mà thực chất là VÔ TÌNH mở đường cho VC mang những đoàn văn công ra hải ngoại khỏi gặp phải những cuộc biểu tình chống đối của người Việt hải ngoại; đến việc rùm beng giật dây đẻ ra "sáng kiến" kêu gọi mọi người "chọn Ngày Tỵ Nạn VN" để VÔ TÌNH khiến ngày Quốc Hận 30-4 bị lu mờ. Từ lời kêu gọi người Việt hải ngoại "tiếp cận du sinh để tuyên truyền dân chủ" mà thực chất là VÔ TÌNH giúp du sinh VC có điều kiện trà trộn thâm nhập vô cộng đồng người Việt hải ngoại; đến việc chủ động vận động đòi "VC cho nhập cảng sách báo" mà thực chất là VÔ TÌNH tạo điều kiện cho VC chính thức và công khai xuất cảng sách báo tuyên truyền ra hải ngoại, đồng thời VÔ TÌNH tạo khó khăn, khiến CĐ người Việt hải ngoại thiếu chính danh trong việc lãnh đạo biểu tình chống nọc độc văn hóa CS. Từ việc tổ chức gây qũy trao học bổng cho du sinh... mà thực chất là VÔ TÌNH giúp đỡ du sinh VC; đến các buổi lạc quyên tại nhiều quốc gia, do tổ chức giúp đỡ công nhân và cô dâu Việt Nam tại Đài Loan tổ chức. Từ việc đẩy tuổi trẻ vào vị thế tung hứng móc nối trong ngoài dưới danh nghĩa "xóa ngăn cách vượt thử thách" mà thực chất là VÔ TÌNH xóa bỏ "lằn ranh Quốc Cộng", kêu gọi mọi người không cần phân biệt cộng sản và cộng hòa; đến lời than thở vô trách nhiệm của diễn giả nhằm xóa bỏ lằn ranh giữa người con có cha là bộ đội xâm lăng Miền Nam, với người con có cha là người lính VNCH chiến đấu chống VC xâm lăng bảo vệ Miền Nam... Thâïm chí, ngay cả một vị linh mục, gạt bỏ giáo luật để vừa mặc áo dòng, vừa khoác áo đảng viên của Mặt Trận, khiến mọi người kính trọng vì tưởng ông đi theo đúng con đường đấu tranh chống cộng sản, cứu dân cứu nước do chủ tịch Hoàng Cơ Minh vạch ra; bỗng trở thành chuyện phi lý, khi ông được VC bí mật chấp thuận cho trở về VN tham dự hội nghị, rồi sau đó khi ra hải ngoại, ông thành lập tổ chức giúp đỡ công nhân VN, cô dâu VN do VC xuất cảng sang Đài Loan, để những công nhân và cô dâu VN đó có điều kiện làm việc kiếm tiền gửi về cho VC... Tất cả những sự thực vừa trình bầy trên đây, trực tiếp hoặc gián tiếp do VT, dù chỉ là vài phần được bạch hóa so với muôn phần chưa được bạch hóa, cũng đủ nói lên sự thật, quả thực TƯĐ Việt Tân đã "chệch hướng", và CHỆCH HƯỚNG MỘT CÁCH CHỦ ĐỘNG!

Nhưng điều khiến mọi người lo ngại hơn là, sau Đại Hội TƯĐ Kỳ 6 vào cuối tháng 9 vừa qua, đã có những dấu hiệu cụ thể chứng tỏ TƯĐ 6 Việt Tân sẽ tiếp tục "chệch hướng" với một tốc độ nhanh hơn, tạo nên những nguy cơ lớn hơn cho công cuộc đấu tranh chống cộng sản, giành tự do dân chủ và nhân quyền cho VN. Bài viết “Tân Chủ Tịch và TƯĐ6 của Việt Tân Chệch Hướng: Điềm Tốt hay Xấu?” trên mạng Tâm Thức Việt Nam (tamthucvietnam.com), của tác giả Vũ Nhân Phong, một thành viên đầy nhiệt huyết, tuổi còn rất trẻ của Việt Tân Cách Mạng, đã cho ta thấy được những nguy cơ lớn lao đó qua 2 điểm vô cùng quan trọng:

Thứ nhất, gần 80% Ủy viên Trung ương Đảng VT lãnh lương toàn thời của Đảng. Như vậy, đa số những Ủy viên lãnh lương sẽ đóng vai trò quyết định chủ trương đường lối của đảng VT trên căn bản lợi hay hại của một "công ty", hơn là trên căn bản đúng hay sai, phải hay trái của một đảng đấu tranh cách mạng. Việc "công ty hóa" và "xã hội hoá" một đảng đấu tranh cách mạng bằng cách trả lương cho các Uỷ viên Trung ương và các thành viên then chốt của đảng VT, sẽ khiến cho các đảng viên này nhận ra, nếu núp dưới chiêu bài "tiếp cận, canh tân" để thâm nhập và đầu tư tại VN, chắc chắn sẽ mang lại quyền lợi vật chất lớn lao cho đảng VT trong đó có bản thân họ, hơn là tiếp tục con đường đấu tranh lật đổ CS vô cùng gian nan và nguy hiểm. Nhận thức này đã đặt nền tảng quyền lợi vật chất khiến VT huỷ bỏ mục tiêu "lật đổ CS", và chỉ đi theo khuynh hướng "tiếp cận, canh tân" VN cho dù CS vẫn còn tồn tại. Việc huỷ bỏ mục tiêu quan trọng "lật đổ CS" đã được chứng minh rõ ràng qua việc Việt Tân giải tán Mặt Trận, và công khai hóa Việt Tân trong thời gian gần đây.(*)

Thứ hai, trong diễn văn đọc trước công chúng ngày 8/10/2006 sau khi nhậm chức chủ tịch đảng Việt Tân, ông Đỗ Hoàng Điềm khẳng định tầm quan trọng đặc biệt của người Việt hải ngoại đối với cuộc đấu tranh của người Việt trong nước. Tuy nhiên, trong lời phát biểu tại một buổi "học tập nội bộ tại San Jose vào đầu tháng 4 năm 2005", ông Đỗ Hoàng Điềm lại tuyên bố, sẵn sàng hy sinh 3 triệu người Việt hải ngoại để làm vừa lòng 80 triệu người Việt trong nước. Cả hai lời tuyên bố này đều được ghi âm, được phổ biến rộng rãi trên internet, và có sẵn trên website (http://www.tamthucvietnam.com/thoisu/thoisu.php?subactionfiltered=showfull&id=1160458605&archive=&start_from=&ucat=&) nên không một ai nghi ngờ sự giả mạo. Dĩ nhiên, ai cũng biết, trong hai lời tuyên bố mâu thuẫn vào hai thời điểm khác nhau, câu nào thực sự xuất phát từ tim óc của ông Đỗ Hoàng Điềm, câu nào ông Điềm nói nhằm tuyên truyền lừa phỉnh đồng bào hải ngoại. Tuy nhiên, điều khiến chúng ta thắc mắc là, tại sao ông Điềm lại coi cộng đồng người Việt hải ngoại chỉ là cái hậu thuẫn, là cái phương tiện cho đảng VT? Tại sao cộng đồng người Việt hải ngoại không phải là lực lượng quyết định đường lối đấu tranh của VT? Tại sao ông Điềm lại cho rằng có sự mâu thuẫn giữa quyền lợi 80 triệu người Việt trong nước và quyền lợi 3 triệu người Việt hải ngoại? Những việc làm nào của VT khiến ông Điềm cho rằng 80 triệu người Việt trong nước thích mà 3 triệu người Việt hải ngoại không thích? Chắc chắn những việc VT đang làm như đào mương, đào giếng, đầu tư tiền của tại VN, tiếp cận giúp đỡ du sinh VC tại hải ngoại... là những việc khiến 3 triệu người Việt hải ngoại không thích. Nhưng có đúng là những việc đó được 80 triệu người Việt trong nước thích, hay chỉ có chế độ VC thích? Phải chăng, khi phát biểu như vậy, ông Điềm đã cố tình tạo ảo tưởng về "ý thích của 80 triệu người trong nước" để biện minh cho việc VT "hy sinh 3 triệu người Việt hải ngoại" qua việc huỷ bỏ mục tiêu "đấu tranh giải thể VC", chỉ còn theo đuổi mục tiêu "tiếp cận canh tân" VN trong khi chế độ VC vẫn còn hiện hữu? Và câu hỏi quan trọng hơn hết, tại sao, ông Điềm, một người đã rõ ràng có quan điểm đấu tranh lệch lạc, coi thường 3 triệu người Việt hải ngoại như vậy, lại được Đại Hội Đảng VT Kỳ 6 chọn làm Chủ tịch đảng? Phải chăng, đó là dấu hiệu hiển nhiên cho thấy đảng VT tiếp tục và công khai đi tiếp con đường "chệch hướng" mà BS Trần Xuân Ninh đã "thổi còi báo động"? Và nếu quả thực sự "chệch hướng" đó tiếp tục là sự thật, thì có phải điều đó mâu thuẫn với những tuyên ngôn, những hoạt động của VT, được coi là "hậu thuẫn cho các phong trào đấu tranh dân chủ trong nước nhằm chấm dứt sự lãnh đạo của CS"? Điều mâu thuẫn đó đã nói lên điều gì? Nếu đó là những biểu hiện mâu thuẫn, thì đằng sau những mâu thuẫn biểu kiến đó, đâu là sự thực, đâu là nguyên nhân? Và nếu quá khứ, đã có LM chấp nhận vi phạm giáo luật, khoác áo Mặt Trận để VÔ TÌNH phục vụ cho quyền lợi của VC tại hải ngoại; đã có chủ tịch cộng đồng bị Mặt Trận thao túng, có những chủ trương và lời tuyên bố, VÔ TÌNH làm lợi cho VC, thì hiện tại và tương lai, cộng đồng người Việt hải ngoại chúng ta cần phải làm gì để ngăn chặn những ảnh hưởng nguy hại tương tự?

Đồng ý, hầu hết những thành viên trong MT trước đây và Việt Tân sau này, đều là những người có lòng yêu nước thương dân, có lập trường Quốc Cộng minh bạch, và có tinh thần dấn thân phục vụ cộng đồng. Nhờ vậy, đông đảo các thành viên của MT & VT đều có uy tín và được tin tưởng ở cấp địa phương. Tuy nhiên, người Việt hải ngoại cũng đủ sáng suốt để nhận ra, trong thời gian qua, những đảng viên VT nào đang tìm cách thao túng, lũng đoạn để cộng đồng đi theo sự "chệch hướng" của TƯĐVT. Giống như trong quá khứ, những sự thật về VT đã được phơi bầy, những âm mưu đã được bạch hóa; trong tương lai, cùng với thời gian và sự sáng suốt của người Việt hải ngoại, mọi chuyện về VT cũng sẽ sáng tỏ, phải trái sẽ rõ ràng, ai công ai tội sẽ được minh bạch.

Kể từ khi CS được khai sinh tại Nga vào năm 1917 cho đến nay, thế giới trong thời gian ngót một thế kỷ đã thừa nhận, CS là chế độ tàn ác, bất nhân, man rợ nhất trong lịch sử nhân loại. Nhân loại cũng thừa nhận, CSVN đã vượt xa tất cả những chế độ CS khác trên thế giới về sự tàn ác, bất nhân, man rợ, và thủ đoạn. Vì vậy, bằng bất cứ giá nào, dù gian nan khó khăn đến đâu, cộng đồng người Việt tỵ nạn cộng sản tại hải ngoại vẫn luôn luôn nhận thấy chúng ta phải có trách nhiệm chống lại chế độ CS, khi nào chế độ đó còn tồn tại trên quê hương VN. Đó là trách nhiệm của chúng ta đối với vong linh của tất cả những người Việt đã nằm xuống trong và sau cuộc chiến tranh VN, cho dù đó là những người đã hy sinh cho lý tưởng cao cả chống CS, bảo vệ tự do cho quê hương; hay những người đã chết trên đường vượt biển, vượt biên tìm tự do. Đó cũng là trách nhiệm thiêng liêng của chúng ta đối với 80 triệu người Việt đang sống trong sự kìm kẹp của CS, tuy căm hận CS, nhưng không thể công khai chống CS. Đó cũng là trách nhiệm cao cả của chúng ta đối với lịch sử 4000 năm của dân tộc VN; lịch sử 200 năm của dân tộc Úc, một dân tộc yêu chuộng tự do đã can đảm và hào hiệp cưu mang chúng ta chỉ vì chúng ta mang danh nghĩa cao quý "tỵ nạn cộng sản". Đó cũng là trách nhiệm của chúng ta đối với nhân loại, cùng niềm tin mãnh liệt của chúng ta vào chân lý cao cả của Đấng Toàn Năng Tối Cao: Lẽ phải, sự thực, điều thiện, cái đẹp của tự do dân chủ sẽ phải thắng cái sai trái, sự gian dối, cái bất nhân, cái xấu xa của nô lệ và độc tài. Hiểu rõ trách nhiệm đó, có được niềm tin mãnh liệt đó, chúng ta sẵn sàng vượt qua mọi nghịch cảnh, đối diện với mọi kẻ thù, chấp nhận mọi hậu quả... trong tấm lòng thanh thản và thái độ ung dung của những người sẵn sàng được tử vì đạo.

Chúng ta tin tưởng vững chắc, trong một tương lai không xa, chế độ VC sẽ bị sụp đổ, tư tưởng cộng sản sẽ vĩnh viễn bị quét sạch trên quê hương thân yêu của chúng ta. Chúng ta cũng biết rằng, trong tương lai không xa, tất cả chúng ta sẽ lần lượt trở về với cát bụi. Cùng với niềm tin và hiểu biết đó, chúng ta cũng thức ngộ được lẽ màu nhiệm sâu xa: Do những bước đi định mệnh của cuộc đời, những nghiêng ngửa của lịch sử, chúng ta, những người Việt sống trong thời đại CS đang tung hoành trên quê hương VN hôm nay, đều trước sau một lòng một dạ ấp ủ niềm tin son sắt, Chỉ có những người Việt yêu tự do nào vĩnh viễn sống với niềm tin và lý tưởng chống CS của mình, người đó khi nhắm mắt vĩnh biệt trần thế, mới có quyền mỉm cười mãn nguyện, “Ta đã sống một cuộc đời đáng quý”!

-----------

(*) Trong phần hỏi đáp trên website của đảng Việt Tân (http://viettan.org/article. php3?id_article=205) có đoạn nguyên văn: "Đảng Việt Tân là một tổ chức đấu tranh mang đặc tính cách mạng với mục tiêu lâu dài là canh tân Việt Nam. Nhưng muốn canh tân thì phải chấm dứt chế độ Việt cộng trước, vì thế mà Đảng Việt Tân đã hoạt động bên trong Mặt Trận để thực hiện mục tiêu chấm dứt chế độ Việt cộng trong suốt hai thập niên vừa qua". Đoạn văn cho thấy, chính đảng VT đã xác nhận rõ ràng 3 vấn đề: Thứ nhất, mục tiêu của đảng VT là chỉ để canh tân VN. Thứ hai, muốn canh tân VN phải chấm dứt chế độ CS trước. Thứ ba, muốn chấm dứt chế độ CS thì phải có Mặt Trận, nên Đảng VT đã hoạt động bên trong Mặt Trận suốt hai thập niên qua. Vậy mà hiện tại, trong khi chế độ VC không những còn tồn tại, chúng còn tàn ác, độc hại và phản bội gấp bội ngày xưa khi chúng xuất cảng phụ nữ, trẻ em ra hải ngoại làm điếm, làm nô lệ tình dục; rồi chúng cắt đất, cắt biển dâng cho Tàu cộng;... thì Việt Tân lại giải tán Mặt Trận, một tổ chức có mục tiêu chấm dứt chế độ VC. Như vậy, rõ ràng khi quyết định giải tán Mặt Trận, và công khai ra mắt đảng VT, đảng VT đã thực sự từ bỏ mục tiêu đấu tranh chấm dứt chế độ VC, và chỉ còn theo đuổi mục tiêu canh tân VN trong khi chế độ VC vẫn còn tồn tại.
Về Đầu Trang
Xem lý lịch thành viên Gởi tin nhắn
HongThatCong



Ngày tham gia: 20 2 2005
Bài gởi: 736
Đến từ: California

Bài gởiGởi bởi: Hai 7 02, 2007 2:39 am    Tiêu đề:

31

Ngồi trên xe lửa, trên đoạn đường từ Nam Định, qua Phủ Lý, đến Hà Nội, lòng tôi ngổn ngang trăm mối khi nhìn thấy những hình ảnh thân quen vùn vụt trôi qua cửa sổ. Bao kỷ niệm được đánh thức, bao nhân dáng thấp thoáng hiện về, để rồi tôi đau xót khi thấy quê hương, đất nước của tôi vẫn nghèo nàn, khốn khổ; thân nhân bằng hữu của tôi vẫn mãi mãi chìm ngập trong cuộc đời giật gấu vá vai, khốn khó về vật chất, đoạ đầy về tư cách, mỏi mòn về nhân phẩm. Bây giờ, cùng với chiến thắng của người CS sau 30-4-1975, biết bao hy vọng mỏng manh của người dân Miền Bắc sẽ bị dập tắt; bao tấm lòng thao thức hướng vô Miền Nam trong suốt bao nhiêu năm qua, nay sẽ phải nghẹn ngào nhắm mắt... Lúc đó, tôi không hề biết, trong suốt 31 năm sau 1975, tổ quốc của tôi, dân tộc của tôi sẽ phải chịu đựng muôn vàn nỗi trầm luân, khổ cực, hàng trăm ngàn người sẽ bị đầy ải trong trại cải tạo, hàng triệu người phải đi vùng kinh tế mới, hàng chục vạn người sẽ chết biển cả, trong rừng sâu, những cô gái Miền Nam hồn nhiên, chất phác như hoa rừng cỏ nội, sẽ phải bỏ cha mẹ, bỏ quê hương đi làm vợ những người đàn ông què cụt, không cùng ngôn ngữ ở khắp các quốc gia trong vùng Á châu, những em bé sẽ bị chế độ CS xuất cảng sang ngoại quốc làm điếm... Thời điểm tháng 5 năm 1975, tất cả những chuyện đau khổ đó chưa xảy ra, nhưng tôi, một thanh niên mới 24 tuổi đầu, với kinh nghiệm cha truyền con nối về chế độ CS, cộng với những gì tôi học hỏi được ở Miền Nam tự do, đã cho tôi biết, cùng với chiến thắng của CS và cái gọi là “hào quang thống nhất đất nước” bao trùm lên cả nước, tổ quốc của tôi, dân tộc của tôi đang bắt đầu bước vào một bóng đen dầy đặc của một đêm dài thời trung cổ... Và cùng với nỗi bất hạnh của tổ quốc, của dân tộc, cuộc đời của tôi cũng sẽ trải qua những nỗi đau đớn, nghẹn ngào, đầy máu và nước mắt...

Tôi biết, với quá khứ của một người bộ đội hồi chánh, một tên “phản bội tổ quốc”, tôi sẽ không thể nào sống nổi trong chế độ cộng sản. Tôi biết hình phạt duy nhất dành cho tôi là nhà tù, trường bắn. Vì vậy, trong thâm tâm, ngay từ khi hiểu rõ chế độ CS, tôi đã có một quyết tâm, bằng bất cứ giá nào, tôi cũng phải thoát khỏi chế độ cộng sản vô nhân, cái chế độ chỉ biết dậy con người thù hận, căm ghét, đập phá. Để thoát khỏi cái chế độ bất nhân cộng sản, tôi sẵn sàng chấp nhận đánh đổi mạng sống của mình, vì thà tôi chết trên con đường chạy trốn cộng sản, cái chết của tôi còn có ý nghĩa hơn là tôi tiếp tục sống kiếp nô lệ trong chế độ cộng sản. Mang trong lòng quyết tâm ấy, cộng với những ảnh hưởng của tác phẩm Ruồi Trâu, ngay từ những năm cuối thập niên 1960, tôi đã tìm đến cảng Hải Phòng, tính chuyện chui xuống một chiếc tàu hàng nào đó, như Ruồi Trâu đã làm, để trốn khỏi Việt Nam. Thực ra, chuyến phiêu lưu đầy nguy hiểm của tôi đáng lẽ thành công, nếu không vì một bữa cơm với cá rô chiên tại nhà một người bạn tôi quen ở bến cảng... Cũng vì mang trong lòng quyết tâm ấy, nên trước ngày vô Nam, từ trong chỗ đóng quân ở sâu trong rừng thẳm của tỉnh Quảng Bình, tôi đã trốn đơn vị để về thăm Thầy, Mẹ tôi lần cuối, để rồi sau đó, ngay khi đặt chân đến lãnh thổ Miền Nam chưa đầy một tháng, từ động Ông Đô ở phía tây Quảng Trị, tôi đã nhằm thẳng vùng ánh sáng của thị xã Quảng Trị, cắt một đường thẳng băng, trở về hồi chánh với chính phủ VNCH... Và bây giờ, sau 1975, khi Miền Nam lọt vào tay cộng sản, tôi cũng chỉ còn có một con đường duy nhất: Phải trốn khỏi chế độ CS bằng bất cứ giá nào, cho dù tôi có chết trên đường trốn chạy. Nhưng trước khi vĩnh biệt quê hương, tôi muốn một lần cuối gặp lại Thầy, Mẹ; lần cuối nhìn lại quê hương cùng những người thân yêu của tôi. Đó là lý do khiến tôi trở lại Miền Bắc trong chuyến đi vô cùng nguy hiểm này.

Như tôi đã thưa với các bạn, trong thời gian sống trên vùng đất của Miền Nam tự do, tôi đã cố gắng làm tất cả những gì có thể làm để người dân Miền Bắc, trong đó có bằng hữu và những người thân của tôi, hiểu rõ sự thực cùng bản chất của cuộc chiến tranh xâm lăng do CS Hà Nội chủ xướng. Để làm được điều đó, tôi đã viết bài, với tên thật, địa chỉ thật; gửi những người thật, địa chỉ thật ở Miền Bắc; và chính tôi đã đọc những bài viết đó trên đài VOA trong suốt thời gian dài mấy năm trời. Vì vậy, ở quê hương của tôi, cả xã, huyện, tỉnh, đều biết tôi là một tên “đầu hàng địch”, một thằng “phản bội tổ quốc”. Nay tôi phiêu lưu trở về chắc chắn tôi sẽ phải đối diện với thật nhiều nguy hiểm, vì trong số những người quen biết tôi, chỉ có rất ít là những người tôi có thể tin tưởng.

Ngay khi xuống ga Hàng Cỏ, lòng tôi nôn nóng chỉ muốn về ngay nhà để thăm Mẹ. Tôi biết, sau gần 5 năm trời xa cách, Mẹ tôi chắc đã già đi nhiều. Mái tóc của Mẹ chắc có thêm nhiều sợi bạc, lưng của Mẹ cũng đã còng thêm... Trong suốt những năm sống ở Miền Nam, mỗi khi nhớ Mẹ, tôi lại nhớ đến giàn mướp, giàn hoa thiên lý mẹ trồng. Tôi nhớ cả chuồng heo, có con heo thiệt to, Mẹ tôi nuôi để sau này bán lấy tiền cho tôi cưới vợ. Tôi nhớ cả bức tường loang lổ, con hẻm chật hẹp, hôi hám mỗi khi đẩy chiếc cổng gỗ ọp ẹp bước vô nhà của Mẹ... Tôi không biết tất cả những hình ảnh đó, những kỷ vật đó, cái nào còn cái nào mất. Thời gian và cuộc sống khốn khó, đói khát trên đất Bắc, khiến tất cả đều bấp bênh, mờ ảo, không có gì là thực.

Nhưng dù tha thiết muốn về nhà, tôi vẫn lo ngại vì nhà của Mẹ tôi ở ngay cạnh nhà của một tay công an. Đó là căn nhà khá lớn, đất rộng gấp bốn, gấp năm lần nhà tôi. Giữa hai nhà chỉ có một hàng rào dâm bụt, thấp đến ngang ngực, nên ngồi chơi ở sân nhà bên này, nhìn rõ mọi chuyện ở sân nhà bên kia. Trong những năm tháng trước khi vô Nam, mỗi khi ghé thăm Mẹ, tôi đều thấy tay công an đi ra đi vô, và có đôi lần, chúng tôi gặp nhau ngay cổng, thậm chí có khi còn chào hỏi nhau một đôi câu. Tôi không biết, tay công an đó có biết gì đến việc tôi hồi chánh hay không. Nhưng dù sao, tôi không thể vội vàng ghé thăm Mẹ tôi, lỡ chẳng may gặp tay công an đó ngay cửa, và tay công an đó biết rõ lý lịch của tôi, thì sẽ vô cùng nguy hiểm cho tôi và cả Mẹ của tôi nữa. Vì vậy, sau khi suy nghĩ thiệt kỹ, tôi quyết định ghé thăm nhà bà chị ở phố Huế trước, tìm hiểu tình hình, thấy thuận tiện thì sẽ ghé thăm Mẹ, sau đó sẽ về thăm Thầy.

Thầy tôi có tất cả 5 người con gái đầu lòng. Vì không có con trai nên lấy thêm vợ hai, được có một người con trai, thấy không đủ bảo đảm có người nối dòng dõi, duy trì hương lửa sau này, nên Thầy tôi lấy thêm vợ ba, đẻ được ra tôi. Người chị gái ở phố Huế là con dâu của ông Tổng Tu, người vẫn thường cùng với Thầy tôi lén lút nghe đài BBC mỗi khi Thầy tôi ghé thăm. Ông Tổng Tu có 3 người con trai và một người con gái. Người con trai cả cũng lấy một người chị của tôi, và cả hai vợ chồng đã vô Nam năm 1954, sống ở Võ Di Nguy, Phú Nhuận. Người con trai thứ hai lấy người chị thứ ba của tôi, và cả hai vợ chồng đều ở lại Hà Nội. Người con trai út cũng vượt tuyến vô Nam ngay từ năm 1957, 1958, và được chỉ huy một trung đội lính bảo vệ Trung Tâm Chiêu Hồi Thị Nghè.

Người chị ở phố Huế là một người rất tháo vát, can đảm và tự tin. Tuy ông Tổng Tu, bố chồng của chị là người bị ghép tội “tư sản mại bản”, và bố ruột thì bị ghép tội địa chủ, lại có các anh chị, bên chồng cũng như bên mình,”chạy vô Nam theo đế quốc”, nhưng trong thế cùng đường của một người mẹ, người vợ phải gánh vác cả gia đình chồng, chị coi tụi cán bộ cộng sản từ thằng to đến thằng nhỏ không ra kí lô gì. Tôi đã từng nghe Thầy tôi kể rất nhiều chuyện can đảm và khôn ngoan của chị khi chị đối đáp với cán bộ cộng sản. Sau này, khi đọc những bài viết chửi cộng sản của bà Dương Thu Hương, không hiểu sao tôi cứ liên tưởng đến người chị ở phố Huế của tôi. Trong số những câu chuyện Thầy tôi kể, tôi nhớ nhất chuyện chị tôi chửi tụi cán bộ cải cách ruộng đất vào năm 1956, hay 1957, tôi không còn nhớ rõ.

Thời gian đó, gia đình tôi bị quy là gia đình địa chủ. Sau một thời gian, đội cải cách đã thu vét tất cả mọi của cải chìm nổi của gia đình tôi, chúng vẫn tin là Thầy tôi còn giấu rất nhiều của cải ở nhà con gái ở Hà Nội. Vì vậy, chúng quyết định trói Thầy tôi rồi giải lên Hà Nội, đến tận nhà chị của tôi ở phố Huế để moi tiền.

Sau khi bị tra khảo nhiều lần, trong thân phận của một người địa chủ, Thầy tôi không còn cách nào hơn, đành phải cho đội cải cách biết rõ địa chỉ của con gái, và chấp nhận để cho đội cải cách giải Thầy tôi lên gặp con gái lấy tiền về trả cho các “ông bà nông dân”....
Về Đầu Trang
Xem lý lịch thành viên Gởi tin nhắn
HongThatCong



Ngày tham gia: 20 2 2005
Bài gởi: 736
Đến từ: California

Bài gởiGởi bởi: Hai 7 02, 2007 2:40 am    Tiêu đề:

32


Dưới ánh náng chang chang của mùa hè và hơi nóng hầm hập bốc lên từ con đường nhựa, thầy tôi phải cởi trần, tay bị trói giật cánh khuỷu, đi chân đất suốt từ ga Hàng Cỏ đến nhà chị tôi ở Phố Huế. Khi tới nhà của chị tôi, thầy cất tiếng gọi, nhưng cả nhà chị tôi lúc đó đang ở trên gác, nên không một ai nghe thấy. Tên đội cải cách liền lấy báng súng dộng vào cửa ầm ĩ. Chị tôi nghe thấy vội chạy ra balcony ngó xuống. Trong mấy phút đầu tiên, chị không hiểu chuyện gì xảy ra. Đến khi thầy tôi ngước mặt gọi tên tục của chị, "Châu con ơi!... Thầy đây!", chị tôi mới sửng sốt thốt lên, "Chúa ơi!..." Sau đó, chị vội chạy ngay xuống dưới nhà.
Vừa mở cửa, nhìn thấy thầy tôi lam lũ, lếch thếch, mồ hôi mồ kê nhễ nhại, chị liền nổi điên:
- Các anh là ai? Tại sao các anh lại trói thầy tôi như thế này?...
Tên đội cải cách ruộng đất liền to giọng nạt nộ:
- Chúng tôi là ai hử? Chúng tôi là cán bộ cải cách ruộng đất. Bố của cô là địa chủ có nợ máu với nhân dân nên chúng tôi phải trói ông ta lại...
Nghe tên đội nói vậy, tình cha con nổi lên, khiến chị tôi không còn biết sợ hãi là gì. Chị đưa tay chỉ thẳng vào mặt tên đội, rồi vừa hét vừa khóc:
- Tôi ra lệnh cho anh cởi trói thày tôi ngay! Thầy tôi có là địa chủ nợ máu với nhân dân hay với anh đi nữa, anh cũng không được quyền trói thày tôi đi nghênh ngang ở đường phố Hà Nội. Anh có biết đây là đâu không? Đây là Hà Nội, thủ đô của nước Việt Nam "dân chủ cộng hòa". Ở đây có không biết bao nhiêu tòa đại sứ, người ngoại quốc. Anh trói người rồi dong đi giữa ban ngày ban mặt thế này là anh bêu riếu "đảng và nhà nước ta", anh có biết không? Các anh là đồ phản động? Tụi ngoại quốc mà nó chụp được hình các anh trói người dong đi giữa đường phố Hà Nội rồi chúng gửi ra nước ngoài, là các anh sẽ bị tù rục xương! Các anh sẽ bị xử bắn! Tôi sẽ cho người đi gọi công an khu phố lại đây ngay lập tức để họ trói các anh lại!...
Rồi vì quá xúc động, chị tôi vừa khóc, vừa túm lấy áo tên đội cải cách mà la lên: "Cởi trói ngay! Anh có cởi trói cho thầy tôi ngay không thì bảo! Anh dám trói người ngay giữa thủ đô Hà Nội? Hu... hu..."
Tiếng khóc, tiếng la hét của chị tôi, cộng với cảnh một ông già râu tóc bạc phơ, cởi trần, đứng run rẩy giữa trưa nắng, bên cạnh là hai người cán bộ cải cách ruộng đất răng đen mã tấu, đã khiến những người đi lại trên đường phố tụ lại vây quanh, rồi tiếng bàn tán nổi lên, xen lẫn tiếng la hét của đám con nít. Tất cả sự ầm ĩ huyên náo này khiến cho hai tên đội cải cách lúng túng, hoảng hốt. Sau đó, tên đội liền rút chiếc dao găm đeo ở hông, cắt dây trói cho thấy tôi.... Chị tôi liền ôm lấy thầy tôi khóc ròng, rồi vừa khóc, chị vừa dìu thầy tôi đi vào trong nhà.... để mặc cho hai tên đội đứng lớ rớ ở ngoài cửa, chúng không dám bước vô nhà mà cũng không dám bỏ đi.
Sau khi ngồi xuống ghế, trải qua phút giây thảng thốt, thầy tôi sực nhớ ra, vội bảo: "Châu, con ra mời hai ông đội vào nhà!..."
Chị tôi vâng lời, bước ra nói... Lúc đó, hai viên đội mới rón rén đi vô trong nhà.

*

Sau khi xuống ga Hàng Cỏ, tôi đáp xe điện tới phố Huế, và đẩy cửa vô nhà của chị tôi vào một buổi trưa trung tuần tháng 5 năm 1975. Giống như tất cả những căn nhà ở Hà Nội sau 1954, nhà của chị tôi cũng phải chia 5 xẻ 7 cho hàng chục gia đình cán bộ của nhà nước cư ngụ miễn phí. Nguyên tầng dưới, có tới 4 gia đình, sống chen chúc, được ngăn cách bằng những tấm cót, tấm màn bằng vải, hay bằng nylon. Chị T. con gái út của ông tổng Tu, cũng chỉ được ở trong một căn phòng chật hẹp, không đầy 6 thước vuông. Vì một căn nhà nhiều gia đình cư ngụ, nên cửa chính lúc nào cũng không khóa. Trở lại nhà chị sau thời gian hơn 6 năm xa cách, tôi thấy cảnh vật vẫn như xưa. Vẫn cánh cửa gỗ cũ kỹ, mở ra những hành lang tối om, âm u, mùi ẩm mốc bốc lên; vẫn những con người bơ phờ, gầy gò ốm yếu, hốc hác, những cặp mắt thờ ơ "ngoài miếng ăn, bất cần tất cả"... đang ngồi, đứng rải rác, thản nhiên nhìn tôi bước vô...
Tôi gật đầu nhẹ chào họ, rồi đi nhanh lên lầu. Chị tôi đang ở trong bếp, nghe tiếng chân trên cầu thang, hỏi vọng ra, "Con Thư về rồi đấy hả?" Tôi vội chạy vô nói:"Em đây chị! Em, Chí đây!..."
Chị tôi quay ra, nhìn thấy tôi, sững sờ không nói... Tôi thoáng thấy rất nhanh trong ánh mắt của chị sự xúc động, thêm vẻ hoảng hốt, phập phồng, giống như mắt của một con thỏ đang bị săn đuổi... Chị không chào, không hỏi, không ôm chầm lấy tôi mà hỏi han, khóc lóc, như tôi đoán. Trái lại, chị tôi hoàn toàn im lặng, bước vội ra ngoài cửa bếp, lấy tay đẩy tôi vô trong bếp, rồi đứng đó im lìm bất động, nhìn xuống cầu thang nghe ngóng động tĩnh. Sau vài phút trôi qua trong im lặng, chị tôi quay vô hỏi tôi, giọng thì thầm:
- Cậu vô đây có người nào thấy không?
Trong tích tắc, tôi hiểu ngay thân phận của tôi, hoàn cảnh của chị, và cả một mạng lưới an ninh nguy hiểm rình rập bủa vây với tiêu chuẩn, mỗi người dân phải là một người công an. Tôi lắc đầu, cốt để trấn an chị. Ngay sau đó, chị tôi ra dấu cho tôi đi theo chị vô trong phòng riêng của vợ chồng chị. Đóng cửa lại thật nhẹ nhàng, chị quay lại hỏi, giọng hơi gắt, vẻ phật ý:
- Sao cậu không đi đi, còn quay về đây làm gì?
Tôi hơi bàng hoàng trước thái độ xa cách, lạnh lùng của chị. Có lẽ nhận ra được điều đó, chị tôi hơi hối hận:
- Cậu ngồi đây, tôi đi pha nước chanh cậu uống...
Tôi cảm động. Thì ra, chị tôi vẫn còn nhớ sở thích uống nước chanh đường của tôi. Tôi vội cản chị lại:
- Cảm ơn chị, em không khát...
Chị tôi lại nhắc lại câu hỏi:
- Sao cậu không trốn đi ngoại quốc? Giờ này cậu còn về đây làm gì nữa?
Tôi xúc động:
- Em muốn về gặp thầy lần cuối trước khi em đi...
Chị tôi trả lời, nghe như một tiếng than:
- Thầy mất rồi em ơi!...
"Thầy mất rồi!" Tôi bàng hoàng, không thể nào tin được lời chị tôi nói. Tôi đứng đó, mở to mắt nhìn chị mà như không nhìn thấy một cái gì... Bao nhiêu nỗi ân hận, nuối tiếc, yêu thương dành cho thầy tôi, trong suốt những năm dài xa cách, đã thôi thúc tôi ở lại, chấp nhận tất cả mọi nguy hiểm, vượt cả ngàn cây số ra ngoài Bắc để chỉ ấp ủ có một ước vọng cuối cùng: Được gặp thầy tôi lần cuối! Nay ước vọng đó đã tan tành thành mây khói. Cuộc đời tôi từ khi sanh ra, lớn lên ở Miền Bắc, tôi chỉ có một người gần gũi, thương yêu tôi nhất là thầy tôi. Trong suốt những năm tháng đói khát và khổ ải triền miên, tôi sinh ra và lớn lên trong tình thương của người cha già sống trong cảnh gà trống nuôi con, tôi đã được chứng kiến, được hưởng biết bao hạnh phúc êm đềm, mà chỉ sau này, khi được sống ở Miền Nam Tự Do, nhớ lại những điều đó, tôi mới hiểu được, tất cả những hạnh phúc tôi được hưởng trong quá khứ, là nhờ những hy sinh, đau đớn, nhịn đói, nhịn khát... của thầy tôi... "Thầy ơi!"
Phải mất mấy phút đồng hồ sau, tôi mới cất tiếng hỏi:
- Thầy mất bao giờ?
Tiếng nói của chị tôi nghe như gió thoảng: "Thầy mất năm 1974..."
Năm 1974, tôi đang sống sung sướng, hạnh phúc và no đủ tại Miền Nam. Tôi hiểu, trong hoàn cảnh đói khổ nơi đất Bắc, cộng với hoàn cảnh thiếu thốn của thầy tôi lúc bấy giờ, và nhất là thân phận của tôi, một tên hồi chánh, "phản bội tổ quốc", đã mang đến cho thầy tôi nhiều nỗi khổ đau gấp bội... Và như vậy, trong nỗi cô đơn tận cùng, thầy tôi đã sống trong sự sự thiếu thốn và đói khát cho đến khi nhắm mắt xuôi tay. Tôi đứng đó, thấy nước mắt của mình ứa ra, chảy dài hai bên má... Tôi khóc âm thầm trong nỗi đau đớn mất mát người thân vô cùng lớn lao, lớn lao chưa bao giờ có trong cuộc đời của tôi...
Tôi hỏi chị tôi: "Mộ của thầy ở đâu?"
Chị tôi nói: "Thầy muốn đưa thầy về Đầm. Nhưng tiền bạc kiếm đâu ra. Thôi thì cứ chôn tạm ở đó... mai sau có...."
Nước mắt tôi lại thêm dàn dụa... Trong lòng tôi cảm thấy đau đớn quá. Như có một nhát dao vô hình đâm vô thật xâu. Tình quê hương, làng xóm, họ hàng thân tộc trong tâm hồn của thầy tôi lớn lao vô cùng. Xa làng Đầm hơn chục năm, nhưng mỗi năm, cứ tết đến, dù lãnh lẽo mưa gió thế nào đi nữa, thầy tôi cũng cơm nắm, muối mè, trái bầu đựng nước, rồi dắt tôi đi bộ cả mấy chục cây số, để về quê tảo mộ, vun đắp mồ mả nội ngoại, rồi thăm hỏi họ hàng xa gần suốt từ làng Sui về làng Đầm...





33

Dưới ánh náng chang chang của mùa hè và hơi nóng hầm hập bốc lên từ con đường nhựa, thầy tôi phải cởi trần, tay bị trói giật cánh khuỷu, đi chân đất suốt từ ga Hàng Cỏ đến nhà chị tôi ở Phố Huế. Khi tới nhà của chị tôi, thầy cất tiếng gọi, nhưng cả nhà chị tôi lúc đó đang ở trên gác, nên không một ai nghe thấy. Tên đội cải cách liền lấy báng súng dộng vào cửa ầm ĩ. Chị tôi nghe thấy vội chạy ra balcony ngó xuống. Trong mấy phút đầu tiên, chị không hiểu chuyện gì xảy ra. Đến khi thầy tôi ngước mặt gọi tên tục của chị, "Châu con ơi!... Thầy đây!", chị tôi mới sửng sốt thốt lên, "Chúa ơi!..." Sau đó, chị vội chạy ngay xuống dưới nhà.
Vừa mở cửa, nhìn thấy thầy tôi lam lũ, lếch thếch, mồ hôi mồ kê nhễ nhại, chị liền nổi điên:
- Các anh là ai? Tại sao các anh lại trói thầy tôi như thế này?...
Tên đội cải cách ruộng đất liền to giọng nạt nộ:
- Chúng tôi là ai hử? Chúng tôi là cán bộ cải cách ruộng đất. Bố của cô là địa chủ có nợ máu với nhân dân nên chúng tôi phải trói ông ta lại...
Nghe tên đội nói vậy, tình cha con nổi lên, khiến chị tôi không còn biết sợ hãi là gì. Chị đưa tay chỉ thẳng vào mặt tên đội, rồi vừa hét vừa khóc:
- Tôi ra lệnh cho anh cởi trói thày tôi ngay! Thầy tôi có là địa chủ nợ máu với nhân dân hay với anh đi nữa, anh cũng không được quyền trói thày tôi đi nghênh ngang ở đường phố Hà Nội. Anh có biết đây là đâu không? Đây là Hà Nội, thủ đô của nước Việt Nam "dân chủ cộng hòa". Ở đây có không biết bao nhiêu tòa đại sứ, người ngoại quốc. Anh trói người rồi dong đi giữa ban ngày ban mặt thế này là anh bêu riếu "đảng và nhà nước ta", anh có biết không? Các anh là đồ phản động? Tụi ngoại quốc mà nó chụp được hình các anh trói người dong đi giữa đường phố Hà Nội rồi chúng gửi ra nước ngoài, là các anh sẽ bị tù rục xương! Các anh sẽ bị xử bắn! Tôi sẽ cho người đi gọi công an khu phố lại đây ngay lập tức để họ trói các anh lại!...
Rồi vì quá xúc động, chị tôi vừa khóc, vừa túm lấy áo tên đội cải cách mà la lên: "Cởi trói ngay! Anh có cởi trói cho thầy tôi ngay không thì bảo! Anh dám trói người ngay giữa thủ đô Hà Nội? Hu... hu..."
Tiếng khóc, tiếng la hét của chị tôi, cộng với cảnh một ông già râu tóc bạc phơ, cởi trần, đứng run rẩy giữa trưa nắng, bên cạnh là hai người cán bộ cải cách ruộng đất răng đen mã tấu, đã khiến những người đi lại trên đường phố tụ lại vây quanh, rồi tiếng bàn tán nổi lên, xen lẫn tiếng la hét của đám con nít. Tất cả sự ầm ĩ huyên náo này khiến cho hai tên đội cải cách lúng túng, hoảng hốt. Sau đó, tên đội liền rút chiếc dao găm đeo ở hông, cắt dây trói cho thấy tôi.... Chị tôi liền ôm lấy thầy tôi khóc ròng, rồi vừa khóc, chị vừa dìu thầy tôi đi vào trong nhà.... để mặc cho hai tên đội đứng lớ rớ ở ngoài cửa, chúng không dám bước vô nhà mà cũng không dám bỏ đi.
Sau khi ngồi xuống ghế, trải qua phút giây thảng thốt, thầy tôi sực nhớ ra, vội bảo: "Châu, con ra mời hai ông đội vào nhà!..."
Chị tôi vâng lời, bước ra nói... Lúc đó, hai viên đội mới rón rén đi vô trong nhà.

*

Sau khi xuống ga Hàng Cỏ, tôi đáp xe điện tới phố Huế, và đẩy cửa vô nhà của chị tôi vào một buổi trưa trung tuần tháng 5 năm 1975. Giống như tất cả những căn nhà ở Hà Nội sau 1954, nhà của chị tôi cũng phải chia 5 xẻ 7 cho hàng chục gia đình cán bộ của nhà nước cư ngụ miễn phí. Nguyên tầng dưới, có tới 4 gia đình, sống chen chúc, được ngăn cách bằng những tấm cót, tấm màn bằng vải, hay bằng nylon. Chị T. con gái út của ông tổng Tu, cũng chỉ được ở trong một căn phòng chật hẹp, không đầy 6 thước vuông. Vì một căn nhà nhiều gia đình cư ngụ, nên cửa chính lúc nào cũng không khóa. Trở lại nhà chị sau thời gian hơn 6 năm xa cách, tôi thấy cảnh vật vẫn như xưa. Vẫn cánh cửa gỗ cũ kỹ, mở ra những hành lang tối om, âm u, mùi ẩm mốc bốc lên; vẫn những con người bơ phờ, gầy gò ốm yếu, hốc hác, những cặp mắt thờ ơ "ngoài miếng ăn, bất cần tất cả"... đang ngồi, đứng rải rác, thản nhiên nhìn tôi bước vô...
Tôi gật đầu nhẹ chào họ, rồi đi nhanh lên lầu. Chị tôi đang ở trong bếp, nghe tiếng chân trên cầu thang, hỏi vọng ra, "Con Thư về rồi đấy hả?" Tôi vội chạy vô nói:"Em đây chị! Em, Chí đây!..."
Chị tôi quay ra, nhìn thấy tôi, sững sờ không nói... Tôi thoáng thấy rất nhanh trong ánh mắt của chị sự xúc động, thêm vẻ hoảng hốt, phập phồng, giống như mắt của một con thỏ đang bị săn đuổi... Chị không chào, không hỏi, không ôm chầm lấy tôi mà hỏi han, khóc lóc, như tôi đoán. Trái lại, chị tôi hoàn toàn im lặng, bước vội ra ngoài cửa bếp, lấy tay đẩy tôi vô trong bếp, rồi đứng đó im lìm bất động, nhìn xuống cầu thang nghe ngóng động tĩnh. Sau vài phút trôi qua trong im lặng, chị tôi quay vô hỏi tôi, giọng thì thầm:
- Cậu vô đây có người nào thấy không?
Trong tích tắc, tôi hiểu ngay thân phận của tôi, hoàn cảnh của chị, và cả một mạng lưới an ninh nguy hiểm rình rập bủa vây với tiêu chuẩn, mỗi người dân phải là một người công an. Tôi lắc đầu, cốt để trấn an chị. Ngay sau đó, chị tôi ra dấu cho tôi đi theo chị vô trong phòng riêng của vợ chồng chị. Đóng cửa lại thật nhẹ nhàng, chị quay lại hỏi, giọng hơi gắt, vẻ phật ý:
- Sao cậu không đi đi, còn quay về đây làm gì?
Tôi hơi bàng hoàng trước thái độ xa cách, lạnh lùng của chị. Có lẽ nhận ra được điều đó, chị tôi hơi hối hận:
- Cậu ngồi đây, tôi đi pha nước chanh cậu uống...
Tôi cảm động. Thì ra, chị tôi vẫn còn nhớ sở thích uống nước chanh đường của tôi. Tôi vội cản chị lại:
- Cảm ơn chị, em không khát...
Chị tôi lại nhắc lại câu hỏi:
- Sao cậu không trốn đi ngoại quốc? Giờ này cậu còn về đây làm gì nữa?
Tôi xúc động:
- Em muốn về gặp thầy lần cuối trước khi em đi...
Chị tôi trả lời, nghe như một tiếng than:
- Thầy mất rồi em ơi!...
"Thầy mất rồi!" Tôi bàng hoàng, không thể nào tin được lời chị tôi nói. Tôi đứng đó, mở to mắt nhìn chị mà như không nhìn thấy một cái gì... Bao nhiêu nỗi ân hận, nuối tiếc, yêu thương dành cho thầy tôi, trong suốt những năm dài xa cách, đã thôi thúc tôi ở lại, chấp nhận tất cả mọi nguy hiểm, vượt cả ngàn cây số ra ngoài Bắc để chỉ ấp ủ có một ước vọng cuối cùng: Được gặp thầy tôi lần cuối! Nay ước vọng đó đã tan tành thành mây khói. Cuộc đời tôi từ khi sanh ra, lớn lên ở Miền Bắc, tôi chỉ có một người gần gũi, thương yêu tôi nhất là thầy tôi. Trong suốt những năm tháng đói khát và khổ ải triền miên, tôi sinh ra và lớn lên trong tình thương của người cha già sống trong cảnh gà trống nuôi con, tôi đã được chứng kiến, được hưởng biết bao hạnh phúc êm đềm, mà chỉ sau này, khi được sống ở Miền Nam Tự Do, nhớ lại những điều đó, tôi mới hiểu được, tất cả những hạnh phúc tôi được hưởng trong quá khứ, là nhờ những hy sinh, đau đớn, nhịn đói, nhịn khát... của thầy tôi... "Thầy ơi!"
Phải mất mấy phút đồng hồ sau, tôi mới cất tiếng hỏi:
- Thầy mất bao giờ?
Tiếng nói của chị tôi nghe như gió thoảng: "Thầy mất năm 1974..."
Năm 1974, tôi đang sống sung sướng, hạnh phúc và no đủ tại Miền Nam. Tôi hiểu, trong hoàn cảnh đói khổ nơi đất Bắc, cộng với hoàn cảnh thiếu thốn của thầy tôi lúc bấy giờ, và nhất là thân phận của tôi, một tên hồi chánh, "phản bội tổ quốc", đã mang đến cho thầy tôi nhiều nỗi khổ đau gấp bội... Và như vậy, trong nỗi cô đơn tận cùng, thầy tôi đã sống trong sự sự thiếu thốn và đói khát cho đến khi nhắm mắt xuôi tay. Tôi đứng đó, thấy nước mắt của mình ứa ra, chảy dài hai bên má... Tôi khóc âm thầm trong nỗi đau đớn mất mát người thân vô cùng lớn lao, lớn lao chưa bao giờ có trong cuộc đời của tôi...
Tôi hỏi chị tôi: "Mộ của thầy ở đâu?"
Chị tôi nói: "Thầy muốn đưa thầy về Đầm. Nhưng tiền bạc kiếm đâu ra. Thôi thì cứ chôn tạm ở đó... mai sau có...."
Nước mắt tôi lại thêm dàn dụa... Trong lòng tôi cảm thấy đau đớn quá. Như có một nhát dao vô hình đâm vô thật xâu. Tình quê hương, làng xóm, họ hàng thân tộc trong tâm hồn của thầy tôi lớn lao vô cùng. Xa làng Đầm hơn chục năm, nhưng mỗi năm, cứ tết đến, dù lãnh lẽo mưa gió thế nào đi nữa, thầy tôi cũng cơm nắm, muối mè, trái bầu đựng nước, rồi dắt tôi đi bộ cả mấy chục cây số, để về quê tảo mộ, vun đắp mồ mả nội ngoại, rồi thăm hỏi họ hàng xa gần suốt từ làng Sui về làng Đầm...
Về Đầu Trang
Xem lý lịch thành viên Gởi tin nhắn
Trình bày bài viết theo thời gian:   
Gởi bài mới   Trả lời chủ đề nầy    Diễn Đàn MẪU TÂM -> 40 NĂM NGƯỜI VIỆT VIỄN XỨ Thời gian được tính theo giờ Việt Nam PST (U.S./Canada)
Chuyển đến trang Trang trước  1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9  Trang kế
Trang 8 trong tổng số 9 trang

 
Chuyển đến 
Bạn không có quyền gởi bài viết
Bạn không có quyền trả lời bài viết
Bạn không có quyền sửa chữa bài viết của bạn
Bạn không có quyền xóa bài viết của bạn
Bạn không có quyền tham gia bầu chọn
|   Register   |   Tin nhắn riêng   |   Đăng Nhập

Powered by -php_BB- Copyright © mautam.net, 2005. All Rights Reserved