Con Mèo của Nhà Tôi - của Nguyễn Thị Tê Hát
Chuyển đến trang 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9  Trang kế
 
Gởi bài mới   Trả lời chủ đề nầy    Diễn Đàn MẪU TÂM -> GÓC ĐỌC & NGHE TRUYỆN ONLINE
Xem chủ đề trước :: Xem chủ đề kế  
Tác giả Thông điệp
Nguyenthitehat



Ngày tham gia: 23 4 2007
Bài gởi: 72
Đến từ: Trai Tim Nuoc My

Bài gởiGởi bởi: Hai 6 25, 2007 7:47 am    Tiêu đề: Con Mèo của Nhà Tôi - của Nguyễn Thị Tê Hát

Như Trái Khổ Qua

"Lạy Đức Chúa Trời Ba Ngôi,
Con lấy được vợ, con thôi nhà thờ"

Hai câu nói trên đã được truyền miệng qua các cụ, qua miệng mẹ tôi như kinh tụng hằng ngày, lúc đó tôi chưa hiểu đời, hiểu người cho lắm, thành ra câu nói trên hình như không nhập tâm tôi cho mấy, cho dù trong lòng chưa bao giờ nghĩ đến chuyện lấy một anh chàng ngoại đạo nào đó khi lớn lên.

Ngày xửa, ngày xưa, ngày mà tôi chỉ là một thiếu nữ ngây thơ, thánh thiện, thánh thiện vô cùng để có thể trở thành một nữ tu như bao nhiêu nữ-tu khác trong tu-viện. Thế nhưng, đời không như là mơ nên đời đã giết chết giấc mơ của tôi, giấc mơ trở thành nữ-tu mà tôi hằng ao ước. Cũng vì trời không chiều lòng nên tôi đã trở nên Tôi của hiện tại, nghĩa là tôi của những bổn phận, của những trách nhiệm như bao nhiêu người đàn bà chung quanh.

Ngày ấy quen nhau, nhà tôi biết tôi là con chiên ngoan đạo, biết tôi là thiếu-nữ thánh-thiện ngây thơ, biết tôi là nữ-tu không mặc áo dòng nên đã cám dỗ tôi bằng mọi cách, đã bao quanh tôi bằng những chiếc vòng đủ màu sắc làm tôi mờ mắt, làm tôi quên mất những điều tâm-niệm khi tôi trưởng thành.

Lúc ấy, nhà tôi chỉ là anh chàng ngoại đạo biết yêu người có đạo nên tôi đoán sau một đêm mất ngủ, sau một đêm tính toán cộng trừ, nhân chia cuộc đời, đã xoay ngược cái kim đồng hồ, xoay hẳn 180 độ để bước đến nhà thờ một cách thật là ngay ngắn, trang nghiêm, đàng hoàng. Nhà tôi đã tự tham dự những khoá học giáo-lý ở nhà thờ Dòng Chúa Cứu-Thế mà tôi không hề hay biết, nên... "Ngây thơ tôi nào có biết gì, đến khi tôi hiểu thì tôi đã... làm lỡ đời tôi...". Thật đấy quý vị ạ, chàng lúc đó rất siêng năng đi nhà thờ, rất siêng năng tham dự những buổi tĩnh tâm trong mùa Chay Thánh. Chàng đưa tôi đi hết nhà thờ này đến nhà thờ khác, từ những Thánh lễ cổ-truyền ở nhà thờ Đắc-Lộ đến những buổi giảng phòng ở nhà thờ Huyện-Sĩ, nếu quý vị ở vào địa vị tôi lúc đó chắc cũng như tôi chứ chẳng khác gì.

Sáng Chủ-nhật nào chàng cũng đạp chiếc xe đạp lóc-cóc từ Khánh Hội sang mãi bên Trương Minh Giảng, con đường thật xa để đưa tôi đi lễ. Một sáng Chúa Nhật, con bé còn đang say sưa ngủ, bỗng bị Mẹ gọi dậy vì chàng của tôi đã đến. Nhìn đồng hồ trên tường... trời ơi! mới có 4g sáng... rõ khổ cho tôi vì chàng chẳng nhớ đến giờ giấc của các Thánh lễ. Tôi, Mẹ nhìn nhau lắc đầu. Mặc chàng ngồi ở phòng khách tôi lên lầu ngủ tiếp mặc kệ Mẹ cằn nhằn, lúc ấy tôi vẫn là con bé thích ăn, thích ngủ nên cái sự "ngoan đạo" quá đáng của Chàng làm tôi bực mình. Những lúc như vậy, tôi có cằn nhằn, thì chàng lại lên giọng đạo đức một cách thật dễ thương:

- Tại anh thích đưa em đi lễ thật sớm, sáng sớm đi lễ mình cầu nguyện Chúa dễ nhậm lời hơn...

Trời ơi! nghe một người ngoại đạo nói như thế làm sao mà không thương cho được? không rung động cho được? Cái điệu này các Cụ còn bị lầm huống gì tôi. Đã vậy lúc đó cái gì chàng cũng cho tôi là Nhất, nào là Em ngoan nhất, em hiền nhất và em cũng dễ thương nhất nữa...

Cuộc đời là những gì không trọn vẹn, cuộc đời là những gì không như ý, cho dù tôi vẫn không nghĩ đến chuyện trăm năm gá nghĩa cùng chàng. Nhưng rồi định mệnh đã đẩy đưa chúng tôi ra đi, đưa chúng tôi đến một chân trời mới. Trước khi đến chân trời mới, chúng tôi đã dừng chân ở đảo Pulau Bidong. Ở đây, mọi người đều phải tham gia những công tác của đảo trước khi đi định cư ở một nước khác. Vì có giọng nói ngọt ngào chứ không chua như bây giờ nên lúc đó tôi đã được chọn làm xướng ngôn viên của đảo, sáng đọc tin tức, chiều đọc bản tin nhắn người vượt biển, trong khi chàng của tôi sau giờ làm việc ở văn phòng, chàng đã học thêm giáo-lý ở một nhà thờ bé nhỏ trên đồi. Cứ thế, gần 3 tháng chúng tôi rời đảo để sang Mỹ với nhiều mộng mơ nơi vùng đất Tự-do mà biết bao nhiêu người đang ước ao đặt chân đến.

Như tôi đã nói, "đời không như là mơ nên đời thường giết chết mộng mơ", thật đúng như câu hát mà tôi thường nghe ngày xưa. Từ Los Angeles, chúng tôi đi Dallas, từ đó chúng tôi về Lawton bằng một loại máy bay nhỏ như một loại xe bus dưới đất vì thỉnh thoảng phải hạ cánh để bỏ khách xuống. Đến phi-trường Lawton, nhìn quanh thật ngỡ-ngàng, phi-trường vắng vẻ tiêu điều như một phi-trường Pleiku mà tôi đã ghé đến ngày xưa. Chúng tôi được một Linh-Mục Việt Nam ở nhà thờ Lawton đi đón, tôi lúng-túng bước xuống trong chiếc áo dài may trên đảo dùng để mặc trong ngày đi định cư. Gió lồng-lộng, tà áo tôi bay phất phới như bay mất những ý nghĩ đẹp mà tôi đã có trong đầu trước khi đặt chân đến bên này.

Vị Linh Mục đưa chúng tôi đến căn nhà mà nhà thờ đã thuê cho chúng tôi trong những bước đầu ở đây. Bước vào trong, tôi thất vọng, chán nản. Nhìn giường chiếu, đồ đạc chung quanh làm tôi buồn muốn khóc nhưng không dám khóc vị sợ làm nản tâm hồn chàng. Cái nóng ở đây không giống cái nóng ở Saigòn nên làm tôi khó chịu, cái quạt nước dưới cửa sổ chạy ầm-ĩ làm tôi trằn trọc suốt đêm. Chàng nằm dưới đất, tôi trên giường, đêm đêm có tiếng dế mèn, có tiếng ếch nhái kêu inh-ỏi làm tôi buồn não-ruột, đã vậy thỉnh thoảng lại có tiếng nổ ầm đâu đó từ một căn cứ quân-sự làm tôi hoảng hốt giật mình, cứ tưởng như mình còn đang ở Việt Nam, đang sống trong thời gian chiến tranh pháo-kích.

Vài ngày sau đó, chàng được rửa tội để chính thức là người có đạo như tôi, để chính thức cùng tôi bước vào nhà thờ một cách đàng hoàng không e-ngại.

Chúng tôi may mắn được nhà thờ chuẩn bị mọi thứ cần thiết mà một đám cưới phải có tại Thánh đường, cũng như tiệc mừng mà bất cứ đám cưới nào cũng có. Xúng-xính trong chiếc áo cưới rộng hơn mình đã được những người khéo tay thâu hẹp lại làm tôi cay đắng. Trong Thánh lễ, Cha giảng gì tôi chẳng nghe rõ, tôi chỉ biết tôi đang cô đơn, tôi chỉ biết tôi và chàng là 2 kẻ lạc-lõng không có người thân. Cha mẹ tôi đó, anh chị em tôi đông lắm, họ hàng tôi thật nhiều, bạn bè tôi cũng thật là đông, nhưng không một ai bên cạnh. Tôi tủi thân, mũi tôi cay nồng, nước mắt tôi bắt đầu rơi từ từ xuống má, xuống môi. Khi Cha bảo chúng tôi nắm tay nhau, chàng xiết nhẹ tay tôi, cái xiết tay của chàng như an-ủi, như vỗ-về từ nay chỉ còn có tôi và chàng sánh bước trên đường đời đã làm tôi khóc sướt mướt, tôi không kìm được những giòng nước mắt rơi như suối đổ, tôi không kìm hãm được những tiếng nấc nghẹn-ngào tấm tức từ ngày tôi ra đi. Tôi khóc đến nỗi Cha phải ngừng giảng, mọi người bàng hoàng lo lắng nhìn chúng tôi kinh-ngạc. Tôi khóc như chưa bao giờ tôi khóc, tôi khóc như bị cha mẹ ép duyên... Nhưng rồi, Thánh lễ cũng qua đi, tôi đã là của chàng, chúng tôi là của nhau, mọi người ân-cần đến ôm chúng tôi với những lời chúc tốt đẹp nhất. Họ hàng, anh em chúng tôi bây giờ là những người xa lạ, là những người không ruột thịt, là những người chúng tôi chưa hề quen biết, họ đã bao bọc chúng tôi qua sự trìu mến, qua tình con người giữa con người, qua tình anh em cùng một Chúa trên cao.

Tiệc cưới của chúng tôi gồm những món ăn do một nhà hàng Tàu đảm trách mà nhà thờ đã bỏ tiền ra để khoản đãi trong đám cưới của chúng tôi. "Ơn ai mang lại từ trời..." Vâng," ơn ai mang lại từ trời!..."

Sau đám cưới chúng tôi là vợ chồng, sáng sáng đi học anh-văn, chiều thả bộ đến nhà những người Việt Nam mới quen biết. Nhưng có những sáng Chủ-nhật trời mưa thật to, mưa tầm mưa tã, không áo mưa, không dù che, chúng tôi đành phải ở nhà đọc kinh. Bởi tôi là nữ-tu không mặc áo dòng nên cảm thấy không yên lòng những sáng như vậy. Nhà tôi đã phải ngồi đọc với tôi đúng 150 kinh tức 3 chuỗi tràng hạt trước khi bước xuống giường. Nhà tôi lúc đó ngoan lắm nên bảo sao nghe vậy. Hai chúng tôi cùng đọc, nhưng không biết đọc được bao lâu, đọc được bao nhiêu lần tôi cũng quên không đếm và khi nhớ lại thì nhà tôi đã quên hết mọi kinh, chẳng còn nhớ được kinh nào. Tôi cũng không còn cái uy của người vợ mới cưới hay của người yêu bé nhỏ như xưa, nên nhà tôi hình như quên cả con đường dẫn đến nhà thờ... Nhưng, tôi vẫn là tôi, dù con đường từ nhà đến nhà thờ có xa cách mấy, dù tay bồng tay bế, tôi cũng không bao giờ bỏ một Thánh Lễ nào nên tôi tự hào tôi là người ngoan đạo, cho dù tôi hiểu cái ngoan đạo của tôi không giống với cái ngoan đạo của người khác, nhưng tôi đã tìm về tôi của những ngày xưa cũ.

Bởi thế, những lúc giận nhau, những lúc giận nhà tôi đến tím gan, tím ruột nhưng vẫn cứ phải bấm bụng làm lành để "chúng mình" cùng dắt con đến nhà thờ tham dự Thánh lễ cho phải phép đạo. Nhiều lúc ngẫm nghĩ, tôi thấy tôi tức nhà tôi, tức tôi, tức luôn cả đời, chỉ vì cái giáo lý mà nhà tôi học ngày xưa không đủ vững, chỉ vì cái kim đồng hồ của nhà tôi quay ngược quá nhanh thành ra ngày hôm nay tôi mới khổ đến như thế. Đã vậy, những lúc đi nhà thờ, gặp điều gì không vừa ý là về nhà hết ý-kiến này đến ý kiến nọ làm tôi nhức cả đầu, làm tôi phát giận để 2 đứa cãi nhau chí-choé. Những lúc như thế, nhà tôi phân bua:

- Có vậy mà em cũng giận, anh chỉ nói sự thật chứ anh đâu có bôi bác gì mà em nổi nóng. Chúa đâu có bảo mình phải đồng loã với những gì mà mình cho là không đúng. Em rõ là vô lý.

Đấy, nhà tôi là một trong những ông chồng theo đạo vòng vòng như vậy đấy quý vị ạ. Bởi thế, biết tính nhà tôi không còn "ngoan đạo" như xưa nên tôi cũng chẳng dám để nhà tôi ngồi gần ba tôi vào những sáng Chủ-nhật sau Thánh lễ bao giờ, vì ba tôi cũng là người có nhiều ý-kiến, cho dù Ba tôi chẳng thuộc cái loại "Lậy Đức Chúa Trời Ba Ngôi, con lấy được vợ con thôi nhà thờ" như nhà tôi, nhưng sáng Chủ-nhật nào sau khi đi lễ về đều nghe Ba Mẹ tôi cằn-nhằn nhau:

- Khiếp, sáng nay Cha giảng gì mà lâu thế không biết, Ba đếm đúng 120 chữ "Tôi" trong bài giảng của Cha, Cha giảng gì lung-tung, Ba chẳng hiểu gì cả.

Mẹ tôi tức lắm kêu lên:

- Cái ông này rõ hay, chẳng có ai như ông, không có lần nào đi lễ về mà đừng có bới móc hay châm biếm, lần nào đi lễ về cũng có chuyện để nói, đi lễ vậy thì ích gì?

Khi tôi nhắm mắt đưa chân đi với nhà tôi trên con đường mà tôi hy-vọng và nghĩ tôi có thể giúp nhà tôi tìm ra chân lý, hoặc cải hoá được nhà tôi theo cái định-lý ngoan đạo mà tôi ước mong. Nhưng thật khổ cho tôi với cái đạo tự tâm mà nhà tôi đã tự vạch cho riêng mình. Quý vị không thể nào hiểu nổi những đau khổ của tôi khi phải đương đầu với những chuyện lười biếng của nhà tôi. Nếu có bảo nhà tôi đi xưng-tội, nhà tôi lại oang-oang:

- Anh thấy anh đâu có tội gì mà phải xưng?

Tôi nhăn mặt:

- Sao lại không? này nhé! tội nói dối vợ, tội xạo với con, tội ăn vụng, tội lười biếng, thiếu gì tội phải xưng...

Nhà tôi cười vớt vát:

- Ừ, thì em biết hết tội của anh rồi, em xưng tội giùm anh đi, nhưng nhớ đừng có xưng tội ăn vụng, anh không có ăn vụng bao giờ cả, ăn vụng là chết với bà làm sao anh dám.

Nghe nhà tôi nói tức anh-ách. Ngày xưa chưa lấy nhau, nhà tôi đâu có ngại đường xa, dù có phải qua mấy cái dốc cầu vẫn cứ thấy nhẹ nhàng như thường, vẫn cứ năn-nỉ để đưa tôi đi lễ, đi nhà thờ, đi nghe giảng... thế nhưng, khi lấy được vợ rồi thì con đường có gần cũng hoá xa, mà mình thì cứ phải mỏi miệng dịu dànng như Thánh nữ để năn-nỉ, ỉ- ôi, lôi kéo để dẫn bằng được "Sa-tăng" đến nhà thờ nhờ Chúa cảm hoá. Nhiều lúc giận quá tôi phải nói:

- Mình kỳ ghê đi, hồi chưa lấy người ta mình đâu có lười như vậy? Lấy được rồi quên hết nhà thờ, nhà thánh. Biết mình như thế, có trải chiếu hoa, có lót vàng dưới chân cũng không thèm lấy mình đâu. Người gì mà lười như vậy không biết nữa. Mai mốt chết, người ta lên thiên đàng đừng có nắm chân người ta đó, nắm chân người ta đạp xuống cho mà coi.

Vâng, đấy là cái sai lầm mà tôi không thể làm lại từ đầu. Đấy là cái vấp ngã mà tôi không thể đứng lên để quay đầu lại. Bởi thế tôi cứ hỏi lòng, lấy phải ông chồng theo đạo vòng-vòng như tôi đã là một vấn đề nhức đầu huống gì lấy phải ông chồng ngoại đạo, mỗi người một bàn thờ, mỗi người một lời kinh thì làm sao hạnh-phúc? thì làm sao hợp ý trong cuộc sống hằng ngày? Bởi cái lỗi lầm không bao giờ sửa được như một vết chàm in đậm trên da thịt đã đưa tôi đến kết luận sau cùng, nếu sau này, các con tôi lớn lên, chắc chắn tôi sẽ bảo các con đừng nên lấy người theo đạo vòng-vòng như bố và cũng đừng lấy người khác miền như Mẹ mà hãy "Ta về ta tắm ao ta, dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn"... phải thế không quý vị?...


Nguyễn Thị Tê Hát


Được sửa chữa bởi Nguyenthitehat ngày Hai 8 18, 2008 8:59 am; sửa lần 14.
Về Đầu Trang
Xem lý lịch thành viên Gởi tin nhắn
nguoiculi



Ngày tham gia: 15 10 2006
Bài gởi: 100
Đến từ: VN

Bài gởiGởi bởi: Ba 6 26, 2007 12:26 pm    Tiêu đề:

Xin cảm ợn bạn nguyenthitehat nguoiculi rất thích khi được đọc những bài bạn đã post ...chúc vui vẻ... Smile
Về Đầu Trang
Xem lý lịch thành viên Gởi tin nhắn
Nguyenthitehat



Ngày tham gia: 23 4 2007
Bài gởi: 72
Đến từ: Trai Tim Nuoc My

Bài gởiGởi bởi: Năm 6 28, 2007 11:21 am    Tiêu đề:

Rất cám ơn Nguoiculi đã đọc những gì Tehat viết, mong những bài viết của Tehat không làm nhàm chán người đọc .

Chúc Nguoiculi tìm thấy niềm vui và thoải mái trong những lần dạo phố ảo.

Thân mến,
Nguyenthitehat
Về Đầu Trang
Xem lý lịch thành viên Gởi tin nhắn
Nguyenthitehat



Ngày tham gia: 23 4 2007
Bài gởi: 72
Đến từ: Trai Tim Nuoc My

Bài gởiGởi bởi: Sáu 7 06, 2007 12:49 pm    Tiêu đề:

Nhà Tôi ... Nam Kỳ!


Vâng, nếu bảo nhà tôi Nam Kỳ đơn thuần như bao nhiêu người khác thì cũng chẳng có gì đáng nói, chỉ có điều đáng nói ở đây tôi lại là dân Bắc Kỳ quý vị ạ.

Ngày xưa, thuở còn môi nồng mắt biếc, chưa nếm mùi chồng con, chưa đeo gông vào cổ, mẹ tôi thường dặn lũ con gái như kinh tụng hằng ngày:

- Các con chớ có lấy chồng người Nam, nó ăn nhậu say sưa tối ngày, về nhà còn đánh đập vợ con nữa...

Hoặc là:

- Chồng người Nam không biết thương vợ, hay bắt nạt vợ và không biết lo cho gia đình... chi bằng ta về ta tắm ao ta, dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn.

Hoặc lại:

- Trâu ta ăn cỏ đồng ta...

vân vân và vân vân...

Thế nhưng, con gái cưng của mẹ tôi có thèm nghe lời mẹ dặn đâu, lại dính ngay với một anh chàng ngâm đen Nam Kỳ đặc để rồi ngày nay Nam Bắc xung đột cứ như văn-hoá Đông, Tây vậy đó.

Thật ra, Ông xã của tôi biết uống rượu nhưng không uống, nhưng nếu có lỡ uống thì cũng quên béng vợ con đúng y như lời bà cụ dặn dò: "chồng người Nam không biết thương vợ con, ăn nhậu tối ngày...". Ông xã tôi biết hút thuốc nhưng không nghiện. Chỉ có mỗi một tội là thích có mèo, thích nói dối và thích thề ẩu như cuội. Cũng rất may là những lúc nhà tôi thề bán sống bán chết như vậy, Thần Thánh bận ngao-du sơn-thuỷ mãi đâu nên không biết đến những lời thề cứ như thật của nhà tôi. Được thể ăn quen nên thề hoài mà chẳng sợ Thần thánh quở phạt gì cả. Bởi thế cho nên nhiều lúc, tôi như rơi vào những cơn lốc của nhà tôi tưởng chừng như bị xoáy nát bởi những lời thề độc địa đó.

Cái tính Nam Kỳ của nhà tôi lại khác với cái tính Nam Kỳ của thiên hạ. Ai bảo người Nam dễ tính, dễ mời chứ Ông xã Nam Kỳ của tôi thì lại khó tính, khó mời. Nể lắm thì cũng chỉ nhấm nháp ly nước cho dù đói meo cả bụng, đến nỗi có người cứ tưởng nhà tôi ăn chay cơ đấy. Chả bù cho tôi, dù mang tiếng Bắc Kỳ khách-sáo, kiểu-cách thế nhưng nếu đã nhập tiệc hoặc đang đói bụng là cứ thật tâm chiếu cố, chẳng ngại ngùng gì cả. Nhà tôi có cằn-nhằn thì tại: " con tim em chân chính không biết nói dối...", hay tại kiếp trước tôi là dân Nam Kỳ?

Ngày xưa, mỗi lần đưa tôi về, gặp cơm chiều, ba mẹ có mời, anh chàng cũng chỉ ăn qua loa, mẹ tôi thấy vậy cứ thắc-mắc:

- Sao anh ấy ăn ít thế? hay là tại mẹ nấu không ngon?

Thế nhưng, cách nói chuyện của nhà tôi thì cứ như người đi xe không thắng, tuột từ một dốc cao. Nhà tôi chả ý tứ gì cả, nhiều lúc tôi cứ phải phụ-nhĩ:

- Mình nhớ nhé, đừng có nói như vậy nhé!...

Dù biết dặn dò thương yêu như vậy có bị trừng mắt, gầm-gừ đi chăng nữa, tôi cũng giả lờ để rồi cứ phải "mình nhé" trước khi ra khỏi nhà.

Cái này thì thật đúng là dân Nam Kỳ chính hiệu, không lai căng tý nào cả (xin lỗi quý-vị Nam Kỳ nhé), ý tôi chỉ muốn nói cái Nam Kỳ của nhà tôi thôi. Đúng ra, nhà tôi thuộc loại người ít nói, thành ra đi đâu tôi cũng bị hàm oan là nói nhiều. Nhưng quý-vị cũng phải hiểu rằng nếu gặp phải ông chồng ít nói thì mình phải nói phải không quý vị? Chẳng lẽ ngồi vào bàn tiệc cứ ăn từ đầu đến cuối thì trông sao được? Nhưng nếu nhà tôi bắt trúng tầng số của ai đó trong bàn tiệc hoặc của người bên cạnh thì thật là cái sự nói nhiều của tôi chẳng thấm tháp vào đâu cả. Những lúc nhà tôi hăng say như thế, thỉnh-thoảng tôi cứ phải đưa tay lén nhéo nhà tôi một cái thật đau mà miệng thì cứ giả vờ cười tươi như hoa, vì cái lưỡi trơn tru của nhà tôi bắt đầu tuột dốc. Vấn đề chính-trị của nhà tôi đôi khi cũng làm tôi nhức đầu, đôi khi cũng làm tôi giật mình vì người đối diện đã vô tình thao-thao bất tuyệt với nhà tôi về một khía cạnh chính-trị nào đó. Nhà tôi như bị khơi trúng niềm đau của người bị bỏ lại nên đã chẳng góp chuyện mà còn phang một câu chí tử làm tôi hoảng quá, nhéo mạnh sau lưng nhà tôi, miệng nhanh nhẹn chen vào câu chuyện để người đối diện quên câu nói vô ý của nhà tôi lúc nãy.

Vào những năm trước, khi phong trào kháng-chiến bắt đầu rầm rộ khắp mọi nơi, đang hăng say rạo-rực tâm hồn người Việt hải-ngoại, khi mà các dồng-chí kháng-chiến còn đang đậm đà tình huynh-đệ, chưa có những vụ tố khổ nhau, đi đâu cũng nghe người ta bán tán về kháng-chiến, về hoạt động của tổ chức này, của đoàn thể nọ... Ông cụ đang thao-thao nói về kháng-chiến, về cứu-quốc một cách say mê với nhà tôi, nhưng nhà tôi ác quá, lại phang ngay một câu:

- Rồi cũng chẳng làm nên trò trống gì, ngày xưa có binh lính trong tay còn chưa làm được huống chi bây giờ chỉ là một con số không... các ông ấy giỏi sao không ở lại kháng chiến, bỏ chạy sang đây làm gì để bay giờ đòi kháng chiến, đòi cứu-quốc.

Ông cụ cụt hứng, đang định cự lại... tôi phải nhanh-nhẹn chêm vào, miệng nói, tay thúc lưng nhà tôi:

- Mình nói gì kỳ vậy? nếu ai cũng nghĩ như mình thì làm gì có ngày về?... mình không làm được thì để người khác làm phải vậy không cụ? Mình nói vậy người ta bảo mình là Cộng-sản đó!

Nhưng nói là nói thế, chứ với thời gian trôi qua, cộng thêm cái khí hậu bất thường của tiểu-bang chúng tôi đang ở đã thay đổi tính tình của nhà tôi lúc nào mà "ngài" cũng chẳng hay. Bởi vậy theo lời các cụ thường bảo: "Việc nhà thì lười, việc chú bác thì siêng" , hoặc "ăn cơm nhà đi vác ngà voi" là vậy. Nhà tôi không còn bác bỏ hay chê bai Hội-đoàn này, kháng chiến nọ nữa mà còn tích-cực tham gia một cách rất ư là hết mình. Kể từ ngày các Hội-đoàn như trăm hoa đua nở khắp mọi nơi, Binh-chủng nào cũng thành lập Hội-đoàn, chỉ có Binh-chủng Công-Binh của Ông Cụ tôi là chẳng thấy ai thèm nhắc đến, không ai thèm đoái hoài đến, chắc tại Binh-chủng của Ông cụ tôi không hào-hoa, không dữ dằn chỉ biết hàn gắn những gì đổ nát do chiến tranh tàn phá, không biết đến bom đạn là gì... Vậy nếu quý vị Công-Binh nào đúng lên thành lập Hội Công-Binh, xin nhớ cho tôi được hân hạnh thay mặt Ông cụ làm hội viên nhé, tôi xin hứa sẽ tham gia nồng nhiệt, hăng say như nhà tôi vậy. Nói đến chuyện mê say hội họp của nhà tôi thì không thể nào không nhắc đến chuyện nhà tôi mải mê hội họp đến nỗi quên cả giờ đón con, để thằng con trai quý của chúng tôi phải đứng chờ ngoài trời giữa mùa đông lạnh giá đến chảy cả máu, nứt cả môi thì quý-vị mới có thể hiểu được sự hăng-say của nhà tôi như thế nào ...

Sự xung-khắc tư tưởng Nam-Bắc cũng luôn xảy ra giữa chúng tôi, kể cả cách sinh hoạt hằng ngày, đôi khi làm tôi thắc-mắc và tự hỏi, không hiểu những cặp vợ chồng Việt-Mỹ thì thế nào nhỉ? Liệu họ có xung đột Đông-Tây như chúng tôi? Hay là tại chúng tôi chưa yêu nhau đến độ có thể quên tất cả dị biệt, cá tính của mỗi miền để có thể sống "dưới túp lều tranh với hai quả tim vàng?".

Con trai tôi sanh đẻ nơi này nên đôi khi không thể tránh được những lời nói vừa Việt, vừa Mỹ, vì chúng tôi cũng như bao nhiêu cha mẹ khác, đi làm suốt ngày, chỉ gặp con cái vài ba tiếng sau giờ làm việc. Vài tiếng đồng hồ đó nào lo cơm nước, dọn dẹp nhà cửa, tắm rửa con cái nên không đủ thời gian để kéo dài tiếng mẹ đẻ như thời gian ở trường học. Bởi vậy nhiều lúc nói chuyện với con, chúng tôi lại phải dùng ngôn-ngữ này để cắt nghĩa ngôn-ngữ kia, khổ thêm một điều là ngôn-ngữ của chúng tôi không thuần nhất mà lại người Nam, kẻ Bắc.

Một hôm cho con ra bờ hồ hóng mát, nhà tôi chỉ ngay đám vịt trời hỏi con:

- Ba đố Vũ con gì kia?

- Con biết rồi, con Duck phải không ba?

- Ba biết đó là con Duck, nhưng ba muốn hỏi tiếng Việt Nam gọi con Duck là con gì?

Thằng bé tiu-nghỉu:

- Con không biết, tiếng Việt Nam gọi là con gì hả ba?

Nhà tôi hý-hửng trả lời:

- Tiếng Việt Nam gọi là con " dịt"

Tôi giật mình, nhẹ nhàng sửa lại:

- Con "Vịt" con ạ, con phải gọi là con " Vịt" mới đúng.

Nhà tôi cãi:

- Con " dịt" chứ con " Vịt" là con gì?

- Con "Vịt" thì là con "Vịt" chứ là con gì? thế con Vịt mình viết thế nào? Mình viết làm sao thì phải đọc y như vậy... nói thiệt cho mình biết, mình mà là học trò của tôi thì chỉ có ăn trứng Vịt thôi.

Về nấu ăn, nhà tôi cũng luôn chê bai bảo tôi không biết nấu ăn gì cả. Điều này tôi vui-vẻ công nhận mà chẳng dám phàn-nàn, vì trước khi lấy chồng, tôi ít được hân hạnh xuống bếp. Mỗi lần xuống bếp là phải có lũ nhóc em tôi đi theo phụ dọn, bởi vậy mẹ tôi cứ nhẹ-nhàng từ chối khéo mà không bao giờ buồn lòng tôi cả, nào là "con nhặt rau sạch, con nhặt hộ mẹ" , hay "con chẻ rau ngon, con chẻ hộ mẹ, để mẹ nấu cho...". Vả lại cách nấu ăn, uống cũng Nam, Bắc phân tranh, bất đồng ý-kiến nữa, nhà tôi ăn cái gì cũng cho đường, cái gì cũng ngọt, xào rau thì phải xào lạt để còn chấm nước tương... trong khi người Bắc xào vừa ăn để khỏi phải chấm lôi thôi. Bởi vậy mỗi lần nhà có khách, nhà tôi phải yểm trợ tôi bằng cách xuống bếp để 2 đứa cứ gầm-gừ vì bất đồng ý-kiến, khách dễ dãi cười:

- Thấy anh chị hạnh phúc quá đến thèm lấy vợ.

Nhà tôi vội-vàng:

- Ấy chớ, chớ có dại dột... tại chưa thấy quan tài nên chưa nhỏ lệ.

Nhà tôi thật đúng là người ích-kỷ, quý vị nào còn độc thân đừng có dại dột nghe lời nhà tôi mà ở giá đấy nhé... biết mình nấu ăn dở, tôi luôn cố gắng để khá hơn mọi ngày, bằng chứng là sau những năm lấy chồng, tôi nấu ăn cũng chẳng tệ cho lắm, một phần cùng vì muốn nấu những món ăn Nam nên cứ phải vác điện thoại hỏi cô em chồng cách nấu để cố làm vừa lòng Ông xã quý, thế mà Ông xã tôi lại chẳng quý tôi tý nào. Trong khi tôi không biết ăn những món ăn người Nam, nhưng vì thương chồng tôi cũng ráng tập ăn, không biết nấu những món ăn người Nam, tôi cũng cố mà tập nấu. Ngược lại, Ông xã tôi chẳng biết điệu tý nào, cứ chê ong-óng rằng món ăn của người Bắc không ngon. Mỗi lần thèm ăn cà ghém chấm mắm tôm thì ôi thôi!... thật là khổ tâm, nhà tôi cứ hết ra lại kêu khắm, hết vào lại kêu hôi, tại nhà tôi người Nam nhưng lại không biết ăn mắm, thật là vô phước cho tôi phải không quý vị? Có lẽ nhà tôi không có dịp làm rể như cái anh chàng nào đó trong văn-chương, ca-dao VN "Công anh làm rể chương-đài, một năm anh ăn hết 20 vại Cà, em ơi! mở cửa cho anh vào, kẻo anh chết khát vì Cà nhà em..."

Đọc đến đây, chắc ai cũng phải đồng ý với tôi là quá tội nghiệp cho cái anh chàng không may mắn này, đã khát nước vì Cà nhà em mà còn phải năn-nỉ mở cửa nữa... chả bù cho Ông xã tôi, mỗi lần vợ ăn có mấy quả cà là cứ nhăn với nhó, bảo món ăn chẳng có gì hấp dẫn để mê cả. Nhà tôi có biết đâu, mỗi lần thiên hạ nhắc đến những món ăn quốc thuần, quốc tuý, người ta đều kể đến Cà ghém và canh rau đay, hoặc mùng tơi, những món ăn ấy mới nói lên tình quê hương, tình dân tộc phải không quý vị?

Nhớ đến năm nào, hứng chí, tôi trồng một ít rau đay sau vườn, vì nhà có sẵn nên khỏi đi mua tốn kém vô ích, cứ thỉnh-thoảng được dịp nấu canh rau đay với tôm khô ăn cho đã thèm. Nhà tôi được ăn đã không cám ơn có vợ đảm đang mà còn than vắn, than dài với bạn bè trong hãng là ngày nào cũng phải ăn canh rau đay. Sáng rau đay, trưa rau đay và chiều cũng lại canh rau đay... Ông xã tôi thật lắm lời, làm gì có thời giờ để ăn sáng, ăn trưa tại nhà? chỉ có nói oan cho vợ thôi. Con gái Bắc chúng tôi đảm đang lắm cơ, chả thế mà nhiều vị muốn lấy con gái Bắc nhưng có gặp duyên, gặp nợ đâu cơ chứ? thế nhưng Ông xã tôi may mắn lấy được vợ Bắc Kỳ đã chẳng biết cám ơn mà lại cứ ngoay-ngoảy rằng thì là con gái Bắc chúng tôi chua như dấm, dzữ như sư-tử Hà-Đông. Chắc ở ngoài Bắc có sư-tử còn trong Nam thì không, nên quý vị đàn ông mới ác mồm, ác miệng bảo chúng tôi như thế...

Ngày xa xưa, ngày chưa dại dột đeo gông vào cổ, đeo cùm vào chân, giọng nói của tôi cũng ngọt ngào, dễ thương làm nhiều người cũng ngẩn-ngơ lắm cơ đấy. Nếu hôm nay nhà tôi chê bai bảo không êm tai thì cũng lỗi tại nhà tôi chứ đâu phải lỗi ở tôi. Từ khi lấy chồng, nhà tôi đã vô tình làm hỏng cuộc đời của tôi mà nhà tôi không hề biết hối hận là gì. Nhiều lúc tủi-thân, tôi bảo khẽ:

- Kiếp này lỡ rồi, kiếp sau nếu có thấy em, mình làm ơn tránh xa ra nhé, đừng có xông vào đó, khổ một kiếp này thôi.

Nhưng dù sao, nhà tôi cũng có những cái một nửa để tôi thương, một nửa để tôi ghét. Một nửa để tôi thương chẳng hạn như biết hút thuốc nhưng nhà tôi không hút. Biết uống rượu nhưng nhà tôi ít uống. Biết đánh bài nhưng nhà tôi không cờ bạc, và biết nhảy đầm thì nhà tôi lại... chết mê vì nhảy đầm, thành ra... Thôi, cũng được phải không quý-vị?

Vậy thôi, đành vậy mình nhé! Ráng thương nhau trọn kiếp này nhé Ông xã Nam Kỳ của em!


Nguyễn Thị Tê Hát
Về Đầu Trang
Xem lý lịch thành viên Gởi tin nhắn
Trình bày bài viết theo thời gian:   
Gởi bài mới   Trả lời chủ đề nầy    Diễn Đàn MẪU TÂM -> GÓC ĐỌC & NGHE TRUYỆN ONLINE Thời gian được tính theo giờ Việt Nam PST (U.S./Canada)
Chuyển đến trang 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9  Trang kế
Trang 1 trong tổng số 9 trang

 
Chuyển đến 
Bạn không có quyền gởi bài viết
Bạn không có quyền trả lời bài viết
Bạn không có quyền sửa chữa bài viết của bạn
Bạn không có quyền xóa bài viết của bạn
Bạn không có quyền tham gia bầu chọn
|   Register   |   Tin nhắn riêng   |   Đăng Nhập

Powered by -php_BB- Copyright © mautam.net, 2005. All Rights Reserved