TAKE2TANGO 'tống tiền' SAIGON LOVE STORY $1,000
Chuyển đến trang Trang trước  1, 2, 3 ... 53, 54, 55 ... 98, 99, 100  Trang kế
 
Gởi bài mới   Trả lời chủ đề nầy    Diễn Đàn MẪU TÂM -> TIN TỨC VĂN NGHỆ - THỜI SỰ HẢI NGOẠI
Xem chủ đề trước :: Xem chủ đề kế  
Tác giả Thông điệp
vu cong ly



Ngày tham gia: 17 12 2007
Bài gởi: 682

Bài gởiGởi bởi: Hai 3 17, 2008 7:01 pm    Tiêu đề:

Thích Độc Hạnh - kỳ 01

Vũ Công Lý

bắt đầu khởi đăng trên Việt Weekly từ số VW 3-17 (04/21/2005)
http://65.45.193.26:8026/cms/acct/vietweekly/issues/vw3n17/tieuThuyet/thichDocHanh.html



Sao trên trang kinh lời kệ
Lại chập chờn thấp thoáng bóng hoa rơi?
Tụng đi! Tụng nữa! Hồn nghiêng ngửa rồi!
Tụng đi! Tụng vỡ mộng đời!
Tụng đi! Tụng nát kiếp người kiếp sư!...
(riêng tặng Thích Nhất Hạnh, mà tờ Con Ong Việt ở San Diego đảo ngữ thành Thiến Nhất Hạch)



Báo-sĩ Lý Kiến Trúc, Chủ nhiệm Nguyệt san Văn Hóa



Báo-sĩ Lý Kiến Trúc, Chủ nhiệm Nguyệt san Văn Hóa và Ca sĩ Ái Vân



Chủ nhiệm Lý Kiến Trúc của nguyệt san Văn Hóa trịnh trọng qùy dâng báo Văn Hóa lên tên phàm tăng Thích Nhất Hạch


*

Chủ nhiệm Nhã Ca (Việt Báo) bị phản đối ở Houston, Texas

LÊ LA ghi

đã được đăng trên Việt Weekly số VW 6-10 (02/28/2008)
http://65.45.193.26:8026/cms/acct/vietweekly/issues/vw6n10/nhaCa.html



Trong một lá thư dài 3,288 chữ gởi đến Ban tổ chức của một sinh hoạt chính trị tại Houston, Texas, nhà báo Nhã Ca, chủ nhiệm nhật báo Việt Báo tại Nam Cali đã bị phản đối mạnh mẽ. Nhóm này cho biết họ sẽ tẩy chay sinh hoạt này nếu có mặt bà Nhã Ca.



Văn sĩ Nhã Ca

Lá thư được viết bởi “một nhóm thường dân Houston & Dallas” được gởi đến các cơ quan báo chí khắp nơi để phản đối sự có mặt của bà Nhã Ca trong buổi lễ “Tưởng niệm nạn nhân Cộng sản tết Mậu Thân 1968” tại Houston Dallas. Theo lá thư của nhóm này cho biết, bà Nhã Ca được mời tham dự với tư cách là “nhân chứng sống” cho vụ thảm sát Tết Mậu Thân, thông qua tác phẩm “Giải khăn sô cho Huế” rất nổi danh của nhà báo này.

Ngoài phần dẫn nhập với số chữ là 314, “một nhóm thường dân Houston & Dallas” đã xử dụng 2,974 chữ để biện luận, bình luận, dẫn giải,…để đi đến kết luận bà Nhã Ca là người không xứng đáng làm “nhân chứng sống” trong buổi lễ trang nghiêm như đã nói.

Lá thư tố cáo bà Nhã Ca đã dùng tờ Việt Báo để “đi hai hàng”, núp sau lưng vấn đề tôn giáo để đưa ra những tư tưởng chính trị, tôn giáo không có lợi cho phía những người chống cộng. Lá thư cáo buộc bà Nhã Ca và Việt Báo đã đi theo nhóm thiền sư Thích Nhất Hạnh để khuynh đảo các hoạt động Phật Giáo. Lá thư kết luận: “…Không ngờ trong giới ký giả, trong giới truyền thông đã có khá nhiều những thành phần…cầm bút, có chút tiền để ra tờ báo là vỗ ngực xưng tên mình là nhà báo trong khi mình không làm tròn chức năng của một nhà báo.”

Tại Nam Cali, tờ Việt Báo được giới cầm bút đánh giá có chủ ôn hòa. Có bề mặt không tham gia trực tiếp vào những sinh hoạt chính trị, văn hóa, xã hội của địa phương nhiều. Hoạt động theo kiểu gia đình, ít mở rộng. Các bài viết chỉ phản ảnh chung chung sự việc, không đưa ra quan điểm cá nhân hay chủ trương của tờ báo. Việt Báo được giới độc giả xếp hàng thứ 3, sau hai tờ Người Việt và Viễn Đông.

***

Chân lý có chi mà lấn?
Hễ ai chấn, nó sẽ ly
Ai có chí, nó sẽ lân
Có chân, chưa chắc có lý!

Kính thưa cô Chủ bút Tưởng Mimi, tôi trịnh trọng thỉnh cầu cô nên layoff ông Tổng thư ký Vân Vân (Etcetera) của tờ Việt Weekly càng sớm càng tốt. Thưa cô, bản tính tôi thích hài hước, cười từ sáng đến tối, đêm ngủ cũng cười với... ma, nhưng khi dở tới trang 9, trong Vol III, No. 14, thấy đăng hình tôi đang ngủ ngồi, còn kèm theo dòng chữ: “Đón đọc dài dài: Những chuyện 'thâm cung bí sử' của Bônsa dị cốc qua lời kể của nhà báo Vũ công Lý, thổ địa của Little Saigon, người được xưng tụng là “Bồ Tát Đọa” của chốn Gió Tanh Mưa Máu Bônsa!”, thì tôi giật thót người, tim, gan, phèo, phổi chạy lộn xộn tùm lum hết. Tôi vội bước ra bàn thiên ngoài sân, thắp 9 cây nhang qùy vái lậy mười phương trời, chín phương Phật, rồi nằm sấp mình suốt đêm ngoài trời giá lạnh, đọc kinh “Ăn năn tội”, kinh “Vực sâu” mỗi kinh 100 lần, thầm thì mong được tha thứ cái tội dây dưa với vô minh! Thưa cô, ông Etcetera theo Công giáo, ông không biết rằng chỉ mấy chữ “thổ địa”, “bồ tát” mà lại còn “bồ tát đọa” nữa, suýt đẩy tôi muôn đời muôn kiếp xuống địa ngục vô gián (không gián đoạn, không cách nào thoát khỏi)! Người Công giáo bên ổng cũng thường đọc câu kinh: “... đời đời kiếp kiếp chẳng cùng. Amen!”. Mà lạ thiệt, người Công giáo không tin có luân hồi, sau khi chết, một là xuống Địa ngục dzĩnh dziễn, hai là lên Thiên đàng dzĩnh dziễn, người nào nửa nạc nửa mỡ thì xuống Luyện ngục một thời gian sám hối, rồi cũng được châm chước, coi như đậu vớt, được đẩy vọt lên Thiên đàng... dzĩnh dziễn, nhưng tại sao trong kinh nhật tụng cũng có nhắc tới đời này, đời sau, kiếp này, kiếp sau, đã thế lại còn kiếp kiếp sau...



Mimi Tưởng, Chủ bút tuần báo Việt Weekly



Tôi thành khẩn dâng kiến nghị lên qúi vị rằng viết gì thì viết, lòng dzòng trong phạm vi cõi Ta-Bà (Ta & Bà) thì ô kê salem, cùng lắm là vác chiếu ra tòa đối chất, nếu thua thì ngọng, ú a ú ớ, bẻ bút, tắt tiếng. May mắn hơn, chóng vánh hơn thì lãnh nguyên một băng Uzi là bước thẳng lên bàn thờ, hiển thánh ngay để hưởng nhang khói nghi ngút, không cần tới băng thứ hai! Nhưng trước khi đề cập đến những gì liên quan đến tông giáo (xin nhấn mạnh chỉ liên quan đến tông giáo, chứ không liên quan đến ĐẠO, vì ngộ Giáo thì rất dễ, còn ngộ Đạo thì rất khó cho những kẻ luôn coi tông giáo của mình là tôn qúi (tôn giáo) hơn tông giáo mà người khác theo), thì qúi vị nên chịu khó tham khảo, học hỏi với Hội đồng Liên Tôn, Thiền sư Nhất Hạnh, đạo sĩ thúi Tam tông miếu Nhật Thanh, Thượng tọa Thích Pháp Châu (báo Con Ong Việt ở San Diego gọi là thích F... Trâu, cách đây mấy năm chính tôi đã cho phát trên một làn sóng phát thanh ở Bônsa đoạn băng thâu những lời “tình nhân gian” của Dâm tăng này, nhưng thông cảm nỗi đau khổ của Phật tử thuần thành Lê Bá Chư nên tôi đã ngưng phát), Mục sư Lê Phú Cam, Đại đức Thích Tuệ Uy, Thượng tọa Thích Giác Lượng (mụ nhà quê Đào Nương, một Phật tử thuần thành, gọi là Thích Ngàn Lượng, anh này công khai xưng tụng thằng “tưởng thú” Nguyễn Hữu Chánh là Bồ Tát), Tổng tuyên úy Phan Phát Huờn, Thiền sư vén váy Thanh Hải (đại ma nữ chuyên trị thuật “Thái bổ”, “hấp tinh đại pháp”) hoặc những nhân sĩ nổi tiếng “đạo cao đức trọng” như ngài Tổng giám đốc Vũ Quang Ninh, Luật sư Phạm Văn Phổ, Giáo sư Lưu Trung Khảo, Giáo sư Trần Đức Thanh Phong, Tiến sĩ Trần Công Tiến (cứ đến mùa khai thuế là nhẩy qua “bờ bên này”, xong mùa thuế lại nhẩy trở lại “bờ bên kia”), Nha sĩ Phạm Đình Tuân (tiểu tăng này lẹt đẹt quá vì ôm đồm đủ thứ, không biết dạo này đạt được “quả vị” nào rồi), Giáo sư Lê Tinh Thông, Giáo sư Quyên Di hoặc những Thi sĩ, Nhạc sĩ đã từng liều lĩnh sáng tác Thiền thơ như Du Tử Táo, Thiền ca như Phạm Duy chẳng hạn.





Tên phàm tăng Thích Pháp Châu





Kiều Nữ Biển Xanh tức "Thiền sư Vén Váy" Thanh Hải Vô-thượng-sư - Sư-Vô-Thượng - Thượng-Vô-Sư



Đại Thi-Hào-hển Du Tử Táo... Bón



Cây đại thụ "Âm Nhạc kiêm Âm... hộ" Phạm Duy

Tôi rất hoan hỉ, dzui dzẻ khi được gọi là “thổ địa” vì thổ là đất, mà địa cũng là đất; “thổ địa” là “đất đất”, mà thiên hạ cũng thường nói “hiền như đất, lành như Bụt”, khác gì Thiền sư Thích Nhất Hạnh dựa vào âm chữ Bud/dha, rồi gọi Phật là Bụt với dụng ý tốt đưa Phật (lý tưởng, cứu cánh giải thoát) đến gần gũi với dân gian hơn. Còn Bồ Tát là những đấng bậc đang ở sát mé, chỉ cần “nhích nhẹ” là qua hẳn “bờ bên kia” nhập Niết Bàn, trở thành một trong vô lượng đức Phật không bao giờ quay trở về “bờ bên này” nữa; nhưng những đấng bậc này vì lòng từ bi vô hạn, thương xót chúng sinh nên không chịu qua “bờ bên kia” mà tự nguyện ở lại “bờ bên này”, đi vào sinh tử để hóa độ chúng sinh (Ta không vào thì ai dám vào địa ngục Bônsa!) Đó là do hạnh nguyện, đại nguyện chứ không phải bị “đọa” giống như những chuyện cổ tích thường tả những nàng tiên “bị đọa”, bị biệt phái xuống trần gian. Không có vị Bồ Tát nào bị đọa, bị đày ải hết. Tôi viết nôm na đại khái như thế không biết ông Công giáo “thích Đấm Ngực” Etcetera có cảm thấy “rét” chưa? Bên Công giáo nếu “kêu tên Đức Chúa Trời vô cớ” thì mắc tội trọng, không khéo còn bị dứt luôn phép thông công, hậu quả sau khi “hồn lìa khỏi xác” chắc chắn sẽ không thoải mái gì; còn bên Phật giáo nếu chỉ vô tình thuyết sai chánh pháp thôi thì sẽ phải trải qua sơ sơ 500 kiếp làm con chồn, chứ đừng nói gì đến sự cố tình bôi bác, phỉ báng! Thưa ông Vân Vân, tôi chỉ yêu cầu cô Chủ bút layoff ông là châm chước lắm rồi, mà cũng là một cách khéo léo đẩy ông ra khỏi làng báo vì gần đây tôi thấy ông đã lún quá sâu vào nghiệp báo chí; tôi e rằng hậu vận của ông sẽ rất thơm tho theo cung cách:

Khi tôi chết đừng quăng tôi ra biển
Hãy bỏ cầu cứt đái cuốn đi.
(nhái thơ Du Tử Táo)

Một số độc giả của Việt Weekly thắc mắc tại sao gần đây tôi cứ cà khịa nhà báo Duy Linh. Vì rất nhiều lý do mà lý do gần nhất là khi đọc bài phỏng vấn đăng trên Việt Weekly, Vol III, No 12, Mar 17 - Mar 23, 2005, trang 13, tôi thấy khi được hỏi: “Cá nhân ông, trình độ học vấn như thế nào?” thì hắn trả lời: “Tôi là một người tu xuất. Chỉ còn hai năm nữa tôi đã chịu chức linh mục, chỉ vì mê làm báo, tôi bỏ. Gia đình tôi từ luôn. Tôi theo ông Tô Văn đi làm báo”.



Báo-sĩ Duy-Linh Nguyễn Văn Tư

Đừng đánh giá thấp khả năng suy luận của độc giả như thế nghe nhà báo Duy Linh! Lần đầu tiên tôi thấy một người đang đi tu sắp chịu chức linh mục (ít ra cũng có cái bằng tú tài I lận túi), mà lại còn rảnh nhiều thời giờ để tập bắn súng nên đăng đủ thứ lính từ nhẩy dù, biệt kích, xà ích cho đại tá Mỹ, rồi an ninh quân đội. Đã thế còn dõng dạc: “Tôi làm báo đầu tiên với ông Tô Văn, tờ Thức Tỉnh cách đây 30 năm (1975). Khi tới Mỹ, tôi vào quân đội Mỹ, quân trường South Carolina, với cấp bực trung úy” (cũng cùng trang 13)... Ở Việt Nam, bỏ tu, bị gia đình từ vì mê làm báo, vì theo ông Tô Văn đi làm báo từ hồi đó... đó. Rồi lại nổ là khi mới qua Mỹ thì đăng lính, được gắn ngay lon Trung úy. Đời sống quân trường Mỹ mãi tận South Carolina, có lẽ quá nhàn nhã nên vừa ăn lương Trung Úy vừa “lần đầu tiên” làm báo với ông Tô Văn ở vùng Los Angeles vào năm 1975... Đúng là nói để mà “lói”, nói lấy được, mà không biết mình “lói” gì!... Lòng dzòng để wam-ắp mấy ngón tay đánh máy, chứ thực ra tôi “kết” nhà báo Duy Linh ở hai chữ “tu xuất”!

Bàng dân thiên hạ thử tưởng tượng ra cảnh tượng nhà báo Duy Linh ngồi chụm đầu thì thà thì thụt với thằng “Tưởng thú” Nguyễn Hữu Chánh coi! Đuôi mắt hai tên này đều xụp xuống mà Ma Y thần tướng gọi là tướng “Qủy Mi”, ngoại diện na ná nhiều nét giống nhau... Tôi nghi rằng hồ sơ “rối mù” của tên Bất Chánh này là do Duy Linh vẽ vời dùm cho! Chi tiết này chửi cha chi tiết kia! Thế mà không biết bao nhiêu kẻ tai to mặt lớn, “kinh nguyệt đầy mình” lại ngoan ngoãn cúi đầu tung hô cái thằng thổ tả Lánh Chánh này.



"Thủ tướng - Tưởng Thú" Nguyễn Hữu Chánh

Lẳng lặng mà nghe chúng dạy khôn
Dạy sao chống cộng, sao luồn trôn
Phen này, chị quyết đi mua vẹt
Đả đảo, hoan hô, sướng cái mồm.
Lẳng lặng mà nghe chúng nịnh nhau
Anh là lãnh tụ của mai sau!
Phen này, chị sẽ đi mua trống
Vừa đánh, vừa la đến thuộc lầu.
(Công tằng Tôn nữ Huyền Nga)

Ông cựu nghị bún Tony Lem Quem đâu rồi? Tôi đề nghị ông mang vài ký Đông Phương tofu lên thăm thằng đệ tử của ông, giống như hồi xa xưa giữa đêm khuya thanh vắng vợ chồng ông đã phải vất vả lặn lội trong đêm mưa gió tầm tã, lái xe lên tuốt vùng Los Angeles để an ủi Duy Linh khi hắn khóc hu hu... Thảo nào, “Trung tướng dỏm” Phan Ngọc Tiếu không tỏ ra ngần ngại chút xíu nào mà đã phát biểu thẳng thừng trên Việt Weekly (Vol III. No 10, trang 13): “Ông Duy Linh và tờ Công Luận gì đó với tôi đâu có xa lạ gì. Tôi là người nuôi ông Duy Linh từ 75 lận. Giá trị của một người làm báo thì không phải vậy. Nếu chỉ một hai trăm bạc mà làm chuyện không đúng với lương tâm làm báo thì hỏng rồi. Cứ hỏi ông Duy Linh và nói rằng, hãy viết một câu: “Tôi đi chợ mua $5 xôi gà” mà Duy Linh viết được mà đúng hết, thì tôi chịu nằm cho anh đập. Duy Linh không biết chữ thì lấy gì làm báo với viết.”... Do đó, tôi với tư thế là Tổng Tư Lệnh Tối Cao Nhân Dân Tự Vận ra lệnh cho “Trung tướng chung sự” Phan Ngọc Tiếu gọi Duy Linh vào trình diện để gắn lon “Thượng tướng” cho Duy Linh, vì hắn đi lính trước ông xa lắc xa lơ, đeo lon Trung Úy thứ thiệt của Mỹ ngay từ hồi 1975 lận!?!

Nhưng cũng tốt! Rất tốt! Tu không được thì xuất, còn hơn cứ nấn ná, chân trong chân ngoài gây tai tiếng không tốt cho tông giáo của mình. Tu là đi tìm hạnh phúc vĩnh cửu, mà xuất tu cũng để tìm hạnh phúc, nhưng là thứ hạnh phúc tạm bợ, vô thường (theo lối nhìn của hầu hết mọi tông giáo). Dù sao thì cũng là hạnh phúc, make me feel good right “neo”!

Sống mà không ái không tình,
Nói diệt càng chán, nói sinh thêm thừa,
Đôi ta duyên nợ từ xưa,
Hơi đâu mõ sớm chuông trưa nhọc mình?
Sao chuông ngân mõ đổ,
Lại không điểm nhịp cầm cho lời tụng niệm lứa đôi?
Ai yêu em đó người thương?
Đừng là nửa phật, nửa tiên, nửa đời!
Tình trần còn bán duyên tiên
Nữa là đây tục đó thiền bao xa
Hay duyên em thiếu mặn mà
Tay hoa vụng dại, lời hoa sỗ sàng
Hay lòng ai đó chưa toan,
Nặng đòn gánh phật, nhẹ quang thơ đời?
Thức dậy chàng ơi, thức dậy thôi!
Miếng trầu đây đấy cắn chung đôi,
Lên trời thành phật còn lâu lắm,
Chỉ một mình em đủ phật trời!

Tọa là cái bàn tọa, cặp mông, hai miếng thịt chè bè dùng để ngồi. Thượng Tọa là ngồi ở ngôi cao, nên tầm nhìn cao rộng, khác phàm tục là đã mở Huệ nhãn, nhìn sự đời không thấy âm dương, không kẹt theo nhị nguyên, không còn đối đãi, thấy chúng sanh như nhau, không nam mà cũng không nữ. Hòa Thượng đương nhiên đã ở ngôi cao từ lâu rồi để Phật tử đảnh lễ, nhưng “cao” hơn Thượng Tọa là hoàn toàn không còn “Sân” niệm, tâm đã bình, khí đã hòa với cảnh giới tịch tịnh của cõi... “trên”.

Đạo cao đức trọng ai bì,
Như cây trụ đá dễ gì chuyển lay?

Mục là con mắt, mục tật là có tật ở đôi mắt. Linh Mục là người đã mở thêm con mắt linh thiêng, tựa như Huệ nhãn theo như ngôn ngữ nhà Phật gọi. Cứ nhìn vào tờ đô la một đồng thì sẽ thấy ngay một mặt in hình cha già dân tộc Washington, mặt kia ở giữa in hàng chữ “In God We Trust” bên trái có kim tự tháp mà đỉnh nhọn là một con mắt đang phát ánh sáng, đang phát Huệ, nếu không gọi là Huệ nhãn thì gọi là gì? Tôi cũng đâm nghi là cố Tổng thống Washington trong một hậu kiếp nào đó, sẽ theo Cao Đài giáo mà biểu tượng tông giáo là “Con Mắt Huệ”. Tụi tư bản tham lam thực ra láu cá hơn tụi cộng sản duy vật: mặt bên này thì in hàng chữ “This note is legal tender for all debts, public and private” (tờ giấy này là phương tiện hợp pháp để thanh toán nợ nần công tư), còn mặt bên kia thì in “In God We Trust”, nhắc khéo rằng khi cầm trong tay tờ giấy này (thay vì ôm qúi kim như vàng, bạc có giá trị tương đối ổn định) thì nên đặt lòng tin vào Thượng Đế chứ đừng tin vào chính phủ, mặc dù tờ giấy này do chính phủ phát hành, vì mãi lực của tờ giấy trôi nổi bấp bênh theo sức mạnh lên xuống tùy thời của nền kinh tế. Bản chất đích thực của tư bản độc thần, hữu thần cũng là duy vật vô thần, nhưng làm cái gì cũng khéo lôi kéo Thượng Đế, Thiên Chúa vào cuộc chơi để có được cái bình phong duy Tâm, duy Linh. Trong cuộc chơi, được thì giả vờ khiêm tốn nói là “Trời cho”, thua thì giả lả nói là “trò chơi” (Tổng thống Bush Jr.. tức là Bush con cũng đã kéo Thiên Chúa từ trên trời cao xuống để đẩy ra mặt trận Iraq, khiến cho cố Giáo Hoàng John Pall II cũng lên tiếng phản đối vụ đánh Iraq). Kinh tài tối đa để thỏa mãn lòng tham vô độ nhưng luôn nhân danh Thượng Đế! Mấy ông tu sĩ, đặc biệt là “Mục sư Đào giếng”, “Mục sư Xe lănNguyễn Xuân Bảo ở vùng Bônsa, hãy thử ngẫm nghĩ xem tôi nói có trúng phóc không?

Dân tám lăm triệu không người lớn
Nước bốn ngàn năm vẫn trẻ con
Trời nào dung mãi một tâm bệnh
Đất nào dưỡng mãi lũ cuồng sinh.
(nhái thơ Phan Bội Châu)

Mục Sư là bậc thầy (sư) có mắt (mục). Nếu phân tích lắt léo theo lối chiết tự thì Mục Sư là sự phối hợp giữa hai chức vụ “Linh Mục” và “Nhà Sư”, sự chắp nối ngôn từ miễn cưỡng này khó có thể tạo ra “con mắt thứ ba”, Huệ nhãn, để nhìn vạn sự như nhất, nhất như; đương sự vẫn chỉ có hai con “mắt thịt”, đầy huyết nhục đỏ ngầu khi dục vọng dấy lên... nên được phép nhìn đời theo tâm sai biệt có âm có dương, nên được phép có dzợ, có chồng, tha hồ chọi, nhưng không được chọi bậy!

Trong trần thế duyên duyên nợ nợ
Duyên cũng đành mà nợ cũng đành.
(Nguyễn công Trứ)
...
Yêu chàng yêu một tình người
Đã sâu như bể lại dài như sông
Mình tu đâu em sẽ tu cùng
Đói no em chịu lạnh lùng em cam.

Người ta trọng nể, cúi gập người chắp tay vái lạy, miệng gọi mình là “Cha”, là “Thầy” phần lớn cũng vì mình khác phàm nhân ở con mắt Huệ đó. Mà không phải hễ muốn lạy thì cứ lạy ngay, mà phải tỏ ra cấp bách, lập cập mở nhời xin phép trước: “Con xin phép... kính lạy cha ạ!”, “Con vô phép... bẩm bạch Thầy ạ!”. Khi không đủ bản lãnh để mở Huệ nhãn, hoặc đã mở từ lâu rồi nhưng lại tự móc ra ném mất tiêu thì nên... xuất tu. Vì thế tôi rất thích thái độ dứt khoát của cựu Thượng tọa Thích Giác Đức, khi rời bỏ nếp sống độc thân của một tu sĩ thì ông tuyên bố dõng dạc: “Ai còn qúi trọng tôi mà gọi tôi bằng Thầy thì cũng được, gọi là ông cũng được, còn bằng không gọi là thằng cũng được!”. Trước thời điểm 30/4/75, Linh mục Nguyễn ngọc Lan cũng xin phép Tòa thánh La Mã được rời bỏ chức vụ Linh mục để lập gia đình và đã được chấp thuận.

Trước một thiên diễm tuyệt đoan trang,
Có chiến binh nào không phải quy hàng?
Có danh tướng nào mà không khép nép?
Có thành lũy nào mà không bị dẹp?
Có thầy tu nào mà không chới dzới?
Và ngai vàng nào mà chẳng rung rinh?
Trận đồ bày thế Mê cung,
Âm binh tám hướng trùng trùng kéo quân,
Cửa Sinh cửa Tử quẩn chân,
Cửa nào cũng có giai nhân yểm bùa!
...
Tiếng đời dâng thôi thúc
Nhạc đời rộn hợp hoan
Đâu phải đường tu là cõi phúc?
Có tình mới dứt được giây oan!
Nghe thấy gì đây?
Nhìn thấy gì đây?
Tiếng gọi cất lên từ miền nhân thế,
Tiếng mát hương lan, tiếng thơm hương quế,
Tiếng ngọt sênh ngâm, tiếng ấm phách mời,
Tiếng má đồng tiền, tiếng mắt có đuôi,
Tiếng tóc ngân nga, vần thơ bồ kết,
Tiếng cánh tay vòng êm đềm gối xếp,
Tiếng âm tìm dương, tiếng vợ tìm chồng!
Tiếng gọi người tu trở lại bụi hồng,
Eo hẹp đến đâu vẫn vui lồng lộng,
Hệ lụy bao nhiêu vẫn là đáng sống...
...
Bể tình nổi sóng ai không dám?
Chết mấy mươi phen vẫn chẳng chừa?
Một khi lòng đã đổi rời,
Phật tâm còn dứt, vàng mười xá chi!
Thuyền Từ đã lạc bến Si,
Chỉ cần chớp khẽ hàng mi cũng chìm.
Đương bình minh chớp mắt hóa hoàng hôn
Đương trí tuệ bỗng trở thành khờ khạo,
Người ôm đạo sẽ đánh rơi mất đạo,
Kẻ đeo gươm rồi cũng tuột tay gươm.

Thượng tọa Thích Giác Đức thuyết pháp rất hấp dẫn, hùng biện, tôi nhớ mãi câu: “Chúng ta phải biết biến đau khổ thành ý chí!” mà ông đã thuyết giảng trong trại tạm trú Fort Chaffee dưới bầu trời khuya trước vài ngàn người tị nạn cộng sản mới chân ướt chân ráo đặt chân tới xứ Mẽo hồi 1975. Ngày xưa, mỗi khi Linh mục Nguyễn Ngọc Lan giảng lễ chiều thứ bẩy tại Dòng Chúa Cứu Thế ở đường Kỳ Đồng quận 3, thì nhà thờ đông nghẹt, giáo dân phải đứng đầy ngoài khuôn viên nhà thờ; ít nhất 2 lần tôi thấy Trung tướng Trần văn Trung (Tổng cục trưởng Tổng cục Chiến tranh Chính trị) mặc bộ vest đứng nghiêm trang giữa hai người cận vệ dưới trời nắng chang chang, gần chiếc xe hơi của ông đậu ngay trong khuôn viên, say sưa lắng nghe cha Lan thuyết giảng. Cũng như cố Linh mục Trần viết Thanh (phong trào Chống Tham Nhũng), Linh mục Nguyễn ngọc Lan giảng về đề tài Đức Mẹ rất hấp dẫn, rất lôi cuốn. Trước khi chấm dứt buổi lẽ, ông hay bắt giọng trước để giáo dân cùng hát theo bài “Kẻ Thù Ta” của Phạm Duy.

Người Công giáo thường mỉa mai những người tu xuất là “đã ăn cơm nhà Chúa... mà còn...”; người Phật giáo cũng có thái độ tương tự là “phải nhớ chén cơm chùa đã nuôi mình ăn học...

Hãy luôn nhớ rằng nương nhờ cửa phật,
Là phải dốc lòng thủy chung như nhất,
Lấy tiếng tụng kinh thay khúc ca đời,
Đừng thả thuyền hồn theo lớp sóng dồi,
Chớ ném nhân tình vào lò lửa tục,
Muốn thành Bồ tát, phải chăm diệt dục,
Ước tới Như Lai, cố tắt lạnh lòng.
Cuộc thế gói tròn hai chữ sắc không,
Sống gửi thác về, sinh sinh diệt diệt.

Đã mang thân phận con người thì có ai mà hoàn toàn tránh khỏi mọi hoạn nạn, ai mà không gặp phải những cảnh ngang trái, éo le (vừa uốn éo vừa le lưỡi), phùng há (đau quặn trong bụng nên phải vừa phùng má vừa cố há to miệng). Phật tử cũng thường tâm niệm: “Mười chuyện ở đời thì tới chín chuyện bất như ý!”. Văn hào Nguyễn Du cũng tự thán: “Bắt cởi trần phải cởi trần. Cho may-dô mới được phần may-dô”. Cứ thử nghĩ xem, ai được bảo vệ an ninh kỹ càng nhất thế giới? Ai được xem là đạo đức nhất nhì trên thế giới? Thế mà vào năm 1981 cố Tổng thống Ronald Reagan và cố Giáo Hoàng John Paul II, cả hai đã từng bị ám sát suýt chết, chỉ cách nhau có mười mấy ngày.

Mệnh người sớm định tự thiên công
Thọ yểu can chi phải bận lòng?
Cái kiếp con người: sinh, lụy, tử
Mộng đời khi tỉnh, thấy là không!
(J. Leiba)

Tuồng huyễn hoá đã bày ra đấy
Kiếp phù sinh trông thấy mà đau
Trăm năm còn có gì đâu
Chẳng qua một nấm cỏ khâu xanh rì!
(Nguyễn gia Thiều)

Cách đây mười mấy năm tôi có viết hai bài khá dài về lá số tử vi và cuộc đời của hai vĩ nhân này. Một số con chiên bực bội lắm vì cho rằng tôi phạm thượng, phạm thánh khi dám dở trò mê tín dị đoan với vị giáo chủ nổi tiếng nhất hoàn cầu. Người Ky Tô hữu thường nói: “Một sợi tóc ở trên đầu mà rụng xuống thì cũng là do Thánh Ý của Thiên Chúa”. Sự kiện một con người được ra đời vào ngày, giờ, năm tháng nào đó đương nhiên phải quan trọng hơn một sợi tóc và dĩ nhiên cũng phải là do “Thánh Ý” Chúa; do đó tôi thấy không có gì là sai trái khi dựa vào yếu tố thời gian khi một người chào đời để thử “tìm hiểu” xem Thánh Ý Chúa muốn gì qua sự hiện diện ngắn ngủi của người đó trên trái đất nhỏ tí ti này!

A! Thân thể! một cái bình tội lỗi
Đất sơ sinh đã hóa lại bùn lầy
Nếu Chúa biết bao nhiêu lòng hốt hoảng
Trong sầu đen đã gãy cánh như đời
Nếu Chúa biết có bao nhiêu dòng lệ đắng
Chảy như sông không rửa sạch sầu đời
Nếu Chúa biết bao nhiêu hồn ly tán
Vì đã nâng bình lửa ấp trên môi
Thì hẳn Chúa cũng thẹn thùng hối hận
Đã sinh ra thân thể của con người.
(Huy Cận)
...
Đôi mắt nào của Chúa ở trần gian,
Có soi thấu tận cùng miền u uẩn?
Đôi mắt nào sáng như trời quang đãng,
Hãy ân cần chuyên chở lụy phiền tôi!
Đôi mắt nào của Chúa ở trần gian
Hãy phán đoán tâm hồn tôi, thánh thiện
Đôi mắt nào tuyệt vời linh hiển
Hãy tò mò thêm chút nữa, tình tôi!
(Nguyễn tất Nhiên)

Những con người bình thường khi gặp hoạn nạn thì dễ được thiên hạ thông cảm, an ủi, vỗ về, cùng lắm là được Tây Độc Âu Dương Phong Etcetera công khai “âu yếm” trên tờ Việt Weekly; nhưng những người đã xuất tu thì lại thường bị mỉa mai, châm biếm: “Cho đáng đời, đáng kiếp! Cái thứ tu xuất ấy mà!” hoặc “Bị Chúa phạt đấy mà! Đáng đời!”...

Tiếc thay một đấng chân tông,
Yếu lòng một phút uổng công một đời,
Nghìn sau réo rắt tiếng cười,
Ngồi trên bệ phật tụng lời trăng hoa...
...
Dĩ vãng là địa ngục
giam hãm đời muôn năm
Tôi - người yêu dĩ vãng
nên sống gần Sa-tăng
Ngày kia nghe lời qủy
giáng thế thêm một lần
trong kiếp người linh mục
xao gầy cơn điên trăng!
...
Ta có gì đâu ngoài trái tim
Đem phơi hệ lụy giữa thanh thiên
Ngờ đâu thiên hạ vô tâm quá
Mua vui trên những nỗi đoạn trường!
(Nguyễn tất Nhiên)

Tôi nghĩ thái độ đối với những người tu xuất nên thay đổi, khi họ đã có can đảm xa rời con đường mà họ thấy không còn hợp nữa! Nhưng rất nhiều người vì sợ dư luận châm biếm mỉa mai nên phải ép mình để tiếp tục một nếp sống trái ý nghịch lòng:

Mình ai chiếc bóng đêm thâu
Nỗi riêng, riêng một mối sầu vì ai?
(Tản Đà)
...
Mỗi đêm say tỉnh vài cơn mộng,
Trở giấc, lòng ơi! Buồn làm chi?
(Đinh Hùng)
...
Năm lại năm qua cứ muốn yên
Mà hương trời gió chẳng làm quên
Mà người vỡ lỡ duyên thầm kín
Lại chính là em, em của anh.
(T.T.K.H)
...
Nếu biết rằng em đã bỏ chồng
Trời ơi có thật uổng hay không
Anh đi tu mãi từ dạo ấy
Chả nhẽ giờ anh lại nhảy dông.
(Internet)
...
Lẽ nào cõi tiên thua kém cuộc đời?
Lẽ nào phúc duyên tự ở lòng người?
Lẽ nào ô trọc lại là thanh khiết?
Và tình ái lại là nòi bất diệt?
Đã có hình hài đố dứt cho ra.
Đã nặng lòng thơ mấy ai thoát cho qua!
...
Cứ ngỡ cuộc hành hương đi vào khổ hạnh,
Nước mắt trái tim đã vắt kiệt khô rồi!
Cớ sao chỉ cần một ngón tay thanh mảnh,
Thần tượng anh linh bỗng thoạt biến thành hơi?

Điều gì quá miễn cưỡng không thuận tự nhiên thường dẫn đến bi kịch, như toàn thế giới chứng kiến trong những năm qua, biết bao nhiêu chuyện thối tha trong hàng ngũ tu sĩ Công giáo đã xì mạnh ra như những trái bom bẩn khiến nhiều tín hữu rất đau lòng, cảm thấy muốn đội quần luôn, ngượng ngùng khi đối diện với những người thuộc những tông giáo khác.

Ban ngày “cha cố” như thần
Ban đêm “cha cụ” tần mần như ma!
...
Bỏ vinh hoa từ chối giàu sang
Đeo áo cà sa bát gỗ vàng
Mộ đạo phải chăng trời ép tính?
Hay vờ ép xác mượn hào quang?

Không phải hễ xuất tu thì những hiểu biết, những nghi thức tông giáo v.v... tự nhiên cũng xuất luôn. Khi trước là Thượng tọa, thì bây giờ làm Pháp Sư giúp đỡ phật tử một số công việc phật sự. Khi trước có thể làm lễ trong nhà thờ qua tư thế linh mục, bây giờ vẫn có thể rao giảng kinh thánh cho tín hữu tùy nghi ở bất cứ chỗ nào thích hợp. Hai vị Thích Giác Đức và Nguyễn Ngọc Lan đã xuất tu, nhưng vẫn sống trong niềm tin tông giáo gốc của mình, “phật tử” vẫn là phật tử, “công tử” vẫn là công tử. Nhưng khi đọc tác phẩm “Từ Áo Cà Sa đến Thập Tự Giá”, chúng ta thấy sự đau khổ, dằn vặt của một người nhẩy từ tông giáo này qua tông giáo khác, hãy nghe tác giả Huệ Nhật tâm sự ở trang 269:

Anh thường về chùa thăm thầy và bạn.
Người ta hay gọi anh là mục sư.
Anh bảo: Không. Tôi chỉ là một tín hữu Tin Lành.
Nhưng hầu như ai cũng muốn gọi anh là mục sư.
Họ nâng cao chức tước để tiện tô mầu
Sự chọc ghẹo dễ châm thêm lửa giận.
Anh cố nói lại cho đúng sự thật rằng
Tôi là sư mục chứ không phải mục sư.

Một người bạn cựu tu sỹ nắm tay đấm, dộng vào mặt anh:
- Đồ phản đạo.
Dù bị đánh, tôi vẫn hạnh phúc hơn người đánh tôi.
Người ấy vô tình chứng minh rằng
Trong Thượng Đế mình dễ thắng hận thù
Anh càng nhịn nhục
Họ càng thấy anh đáng ghét hơn.

Một người khác mắng thẳng vào mặt anh:
- Đồ vô liêm sĩ. Bị đập vào mặt mà không biết nhục.
Rồi đuổi anh đi,
Tố cáo anh đã bội phản chén cơm chùa.

Đời chia muôn nhánh khổ
Anh tận gốc gian nan
Cửa chùa tuy rộng mở
Tà đạo khó nương thân
Anh đành xưng qủy sứ
Lãnh đủ ngọn giáo trần!
Qua giáo đường kiếm Chúa
Xin được làm chiên ngoan
Chúa cười rung thánh giá
Bảo: đầu người có sừng!
(Nguyễn Tất Nhiên)

Trở lại chuyện Duy Linh, hắn đã xuất tu, vẫn sốt sắng đi nhà thờ hàng tuần, nhưng luôn tìm cách khui những bê bối của một số nhỏ tu sĩ Phật giáo, với sự tiếp tay tích cực của một số trí thức Phật giáo dùng hắn làm bình phong, mà cố tình làm ngơ những “hũ mắn” thúi rùm của cũng một số tu sĩ Công giáo, có lẽ hắn sợ “mất linh hồn!” Nếu có dịp tôi sẽ trình bày trong một bài dài lê thê, thật tỉ mỉ những hành động công khai cũng như ngấm ngầm của hắn cấu kết tùm lum với đủ thứ phe phái, vừa thủ lợi vừa quậy cho dzui, miệng lúc nào cũng gầm lên: “Ta không đụng người thì người đừng đụng ta. Người cố tình đụng ta thì ta phải đụng người!” hoặc “Viên đạn nào bắn vào nhà báo Duy Linh thì viên đạn đó là do Cộng sản xúi dục!” Đúng là vừa đíu vừa run; vừa ăn cướp, vừa khoác áo chính nghĩa Quốc Gia. Lần về Việt Nam vừa rồi, thưa ông nhà báo “lão thành tinh ma”, ông có nhận thêm chỉ thị nào từ Phó Thủ tướng vixi Nguyễn Tấn Dũng không?



Cố Báo-sĩ Đỗ Ngọc Yến , Sáng lập viên kiêm Chủ Nhiệm nhật báo Người Việt "chủ tọa" cuộc họp mang tích cách "thậm thà thậm thụt" với Tổng Lãnh sự Vixi Nguyễn Xuân Phong và Phó Thủ tướng Vixi Nguyễn Tấn Dũng



(từ trái): Lê Qúi Biên, Tổng Lãnh sự Vixi Nguyễn Xuân Phong, Cố Báo-sĩ Đỗ Ngọc Yến và Võ Tá Chước (con trai cựu Hải quân Đại tá Võ Sum, cháu ruột của những Nữ-sĩ Linh Bảo & Minh Đức Hoài Trinh)

Bài “Châu Nhớ Em Quá” dưới đây đã được đăng trong mục “Nói Hay Đừng” trên tuần báo Công Luận của báo-sĩ Duy Linh, số 512 ra ngày 3/3/2000:

Trong tuần qua tuần báo Công Luận đã nhận được những lời tố cáo đối với Thượng tọa Thích Pháp Châu, một nhân vật tu hành được nhiều người “mến mộ”, về việc nhà tu Phật giáo này đã phạm giới “dâm” với một nữ Phật tử.



Thượng tọa Thích Pháp Châu, một tên phàm tăng khét tiếng ở "thủ đô dzăng wóa" Little Sàigon, Cali.

Mới ban đầu, Công Luận không tin một nhà tu hành “khả kính” như Thượng tọa Pháp Châu lại có thể phạm vào giới luật “nặng ký” hàng đầu của Phật giáo như thế, nhưng sau đó tòa soạn đã nhận được một cuốn băng cassette ghi âm cuộc đối thoại rủ rê, hẹn hò giữa thầy Pháp Châu và một nữ phật tử nọ.

Cũng vẫn không tin, Công Luận bèn mang cuốn băng này lại để kiểm chứng với Thượng tọa Pháp Châu vì sợ nhà tu “khả kính” của chúng ta bị thiên hạ vu oan giá họa, ngụy tạo bằng chứng. Thế nhưng quả là “tá hỏa tam tinh”, Thượng tọa Pháp Châu, sau khi nghe cuốn băng đã thờ dài thườn thượt và nói với chủ nhiệm tuần báo Công Luận rằng: “Xem như vận xui của thầy”.

Nội dung những lời đối thoại giữa Pháp Châu và nữ đệ tử trong cuốn băng này như thế nào? Dĩ nhiên là bàn dân thiên hạ và nhất là giới Phật tử ai cũng muốn biết. Thôi thì kinh khủng ơi là kinh khủng! Dâm đãng ơi là dâm đãng, chẳng thua những cuộc “phone sex” là mấy, nhưng lại là những cuộc “phone sex” cộng đồng nghe khỏi phải trả xu nào.

Lúc đầu Công Luận thực lòng cũng không muốn bạch hóa chuyện bê bối động trời này của Pháp Châu, vì bản thân người viết bài này cũng là một Phật tử ngoan đi lễ chùa (có lẽ chỉ thua nữ đệ tử cưng nọ của Pháp Châu), nhưng rồi với lương tâm của người làm báo, Công Luận không thể nào không “mổ” banh cái ung nhọt ghê tởm này trong hàng ngũ Phật giáo nói riêng và cộng đồng nói chung. Bởi vì im lặng tức là đồng lõa. Bởi vì im lặng tức là làm ô nhục đến những vị chân tu Phật giáo khác, vẫn phải đứng cạnh “Đại dâm tăng” Pháp Châu trong hàng ngũ những nhà lãnh đạo Phật Giáo thuộc Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất tại Hoa Kỳ.

Một trong những phát giác nơi cuốn băng hẹn hò đi “ăn chọi” giữa Pháp Châu và nữ đệ tử nêu trên, người ta còn phát giác ra cả sự kiện Pháp Châu đã sử dụng những số tiền lớn của Phật tử “cúng dường” cho chùa để tên dâm tăng này “cúng” cho cái “giường” trong những motel và bao “đào nhí”, kể cả tiền chi cho “nàng” mua yến sào, hàng trăm mỹ kim một lạng, bồi bổ cho dâm tăng Pháp Châu để y có đủ công lực “nhảy đực” 4 “qủa” trong vài tiếng đồng hồ như chính lời tên dâm tăng này nói với “em bé” trong cuốn băng ghi âm những cuộc điện đàm nói trên.

Giới thiệu nhiều về “thành tích” dâm dục của Thích Pháp Châu cũng bằng thừa nên Công Luận quyết định bạch hóa cuốn băng nêu trên trong số báo này như một lời tố cáo mạnh mẽ và trung thực nhất đối với con qủy dâm dục đang mặc áo cà sa kia. Công Luận cũng đề nghị với Thượng tọa Thích Pháp Châu, sau khi sự kiện đồi bại này được bạch hóa, nên đổi pháp danh thành “Thích Motel” hay “Thích Đi Tơ” là vừa.

Sau đây mời qúi vị lắng nghe cuốn băng ghi âm những cuộc đối thoại giữa “Thích Đi Tơ” và em bé của “Thầy”, nhưng Công Luận cũng xin cảnh cáo là cuốn băng này cấm trẻ em dưới 18 tuổi nghe lén...

*

Tông giáo nào cũng rao giảng tình thương, Ky-tô giáo phát huy “công bình, bác ái”, Phật giáo khuyến khích “xả, hỷ, bi, từ”. Xuất phát từ La tinh, từ ngữ “Love” tự nó tròn đầy, không thể tách ra được chữ nào nữa mang ý nghĩa riêng biệt, còn từ ngữ “Life” có thể tách ra hai chữ nữa là “lie” và “if”. Tình yêu (love) là trọn vẹn, còn yếu tính của đời sống (life) là “nói láo” và “nếu...”, “gỉa sử, gía mà”. Thích Nhất Hạnh nghiêng hẳn về “life” hơn “love” vì khéo sử dụng “lies” và “ifs”. Phật giáo rất mênh mông bao la (“Nhất bổn tán vạn thù”, người đời hay nói là hơn 8 vạn pháp môn. Rồi “vạn thù lại quy về nhất bổn”, điều mà những nhà huyền học Thiên Chúa giáo gọi là “Điểm Sáng trong Linh hồn” - scientilla animae - thì Phật giáo Đại thừa gọi là Phật tính, là Như Lai tạng) bao gồm nhiều Văn Hiến như: A Tỳ Đàm, Duy Thức, Bát Nhã, Trung Quán v.v... Còn Thiền tông là một trong nhiều tông phái khác nhau trong Phật giáo như: Pháp Tướng tông, Hoa Nghiêm tông, Thiền tông, Luật tông, Tịnh Độ tông... Trong thời buổi này, chữ “Thiền” được thốt ra trên đầu môi chót lưỡi của rất, rất nhiều người. Hiểu cách nào cũng đúng theo cách nghĩ của... người phát biểu! Đôi khi chỉ là một cách làm dáng cố ra vẻ thời thượng, mang tính cách trang trí màu mè vô hại; đôi khi cũng muốn nhắc khéo: “Tui tu rồi nha. Tha cho tui, để tui yên, đừng có cà khịa!” Cũng tốt thôi! Bồ Đề Đạt Ma, tổ sư Thiền, ngán ngẩm những cái trò giành giựt chức tước, địa vị đầy tham, sân, si giữa những bậc cao tăng bên Ấn Độ, nên lầm lũi bước chân vào đất Trung quốc: “Ta bước chân vào xứ sở này, ngực cởi trần, vai mang cần câu không có móc câu, ăn cháo, đá bát!”

Phù thế đã nhiều duyên nghiệp quá!
Lệ lòng mong cạn chốn am không.
Cửa thiền một bóng duyên trần dứt,
Quên hết người quen chốn bụi hồng.
(J. Leiba)
...
Lần bước tiếng gieo thầm, bóng ai kia lủi thủi?
Lẳng lặng với sương gieo, im lìm cùng gió thổi
Không tiếng, không tăm, không thưa, không hỏi
Không hét, không cười, không than, không tủi
Lận đận với năm canh, bóng ai kia lủi thủi.
(Lưu trọng Lư)

Bọn bát nháo (nhốn nháo vì bát cháo) ở Bônsa có lẽ thích câu này lắm vì có mấy chữ “ăn cháo, đá bát”, có lẽ thêm hai chữ “quẹt mỏ” cho đủ vị, tăng phần sướng khoái. Phải chăng Tổ sư Thiền tông Bồ Đề Đạt Ma muốn nói là người tu Thiền thì tâm phải trống rỗng, tâm không (ngực cởi trần), tránh vướng mắc (cần câu không móc. Niết là không, Bàn là động từ chỉ hành động đan áo, móc áo. Niết bàn là không đan áo, móc áo; nên tránh những vướng mắc, những mối liên hệ, vì có liên hệ là có lụy, mà nên theo gương ta ngồi diện bích ròng rã hết năm này sang năm khác), “ăn cháo” tượng trưng cho một hành động trong kiếp sống, “đá bát” là xóa sạch ngay vết tích của hành động đó không lưu lại dấu ấn gì cả, không muốn người đời sau biết đến mình, xưng tụng mình. Xét sơ 4 điểm này thôi, thì thấy ngay Thích Nhất Hạnh tu theo Độc phái nào đó, chứ không chỉ thuần theo Thiền tông, thảo nào cứ vênh váo mình là “Tiền sư”!

(đón xem tiếp kỳ 02)


Được sửa chữa bởi vu cong ly ngày Hai 4 07, 2008 10:54 pm; sửa lần 10.
Về Đầu Trang
Xem lý lịch thành viên Gởi tin nhắn
vu cong ly



Ngày tham gia: 17 12 2007
Bài gởi: 682

Bài gởiGởi bởi: Hai 3 17, 2008 10:39 pm    Tiêu đề:

Thích Độc Hạnh - kỳ 02

Vũ Công Lý

bắt đầu khởi đăng trên Việt Weekly từ số VW 3-17 (04/21/2005)
http://65.45.193.26:8026/cms/acct/vietweekly/issues/vw3n17/tieuThuyet/thichDocHanh.html

(tiếp theo kỳ 01)

“Tu Thiền” thực ra cũng chẳng bí hiểm gì cho lắm, chẳng qua là thay vì lo lắng kéo dài kiếp sống, thì hãy cố gắng ý thức, rán nhìn cho đúng thực tướng của sự vật (trực chỉ chân tâm), rồi sống thật với tính chất vô thường của sự sống.

Đừng nói gì, tất cả Sắc là Không
Cấm nói gì, Sắc Không là tất cả!
...
Tâm sanh các pháp thảy đều sanh
Tâm diệt các pháp thảy đều diệt
Muôn ngàn nghiệp chướng thảy do tâm
Rồi cũng do tâm mà diệt nghiệp
...
Tình chẳng phải tình
Ái mà không ái
Sinh diệt diệt sinh
Chẳng gì tồn tại.
Đời bày ra mộng,
Mộng lại bày đời,
Không không sắc sắc,
Hư ảo mà thôi!

Vào tháng 2, 1995, khi Helen Tworkow, Tổng biên tập báo Tricycle Review, hỏi:
- Người ta có thể đạt được Giác ngộ bằng cách theo dõi hơi thở một cách chánh niệm, như Thầy vẫn thường dạy?

Thì Thiền sư Thích Nhật Hạnh trả lời:
- Chắc chắn là thế. Khi thực tập thở có chánh niệm, bạn nhìn ra được sự sân si, nỗi khổ đau, lo lắng trong lòng bạn. Khi bạn thở một cách chánh niệm, bạn thực hành quan sát sâu xa nội tâm mình. Chúng ta là tập hợp của thọ, tưởng, hành và thức. Bản tánh là gì - nếu không phải là tất cả những thứ nầy? Vì chúng ta có vọng tưởng, nên chúng ta có khổ đau, và nếu không biết bản tánh của vọng tưởng của mình, bạn khó mà giải thoát ra khỏi các khổ đau. Mà bản tâm, bản tánh của bạn là bản tánh của thọ, tưởng, hành và thức. Bản tâm, bản tánh không phải để chỉ một cái gì trừu tượng, mà là để chỉ bản tánh của bạn, cũng là bản tánh của tất cả vũ trụ, tất cả là Một.



Thích Nhất Hạnh có khác! Trả lời đúng bài bản nhưng siêu hơn những thiền sư khác ở chỗ thay vì nói bản tánh của tất cả vũ trụ là Phật tánh, thì Thích Nhất Hạnh nói tất cả là Một. Nói Phật tánh thì phần lớn những người Tây phương hoặc những người còn xa lạ với ngôn ngữ của đạo giải thoát, sẽ vẫn còn cảm thấy xa cách, mà nói “tất cả là Một” thì xóa tan ngay lập tức cái khoảng cách với người đối diện, thu hút họ đến sát gần hơn! Nhưng người tu Thiền ít ai cống cao ngã mạn, “xênh xang mũ áo”, đầy võng lọng sắc tướng, bầy đoàn lẽo đẽo theo sau như Nhất Hạnh.









Con người đầy ắp "dzăng-wóa", Lý Kiến Trúc, cảm thấy qúa vinh hạnh khi được tên phàm tăng Nhất Hạch cho phép diện kiến, nên vội qùy mọp người, hai tay dâng nguyệt san "Văn Hóa" lên Ngài, hy vọng được Ngài "tiếp thu" và ban cho vài lời "dzàng ngọc".



Tên phàm tăng Thích Như Điển có đời sống xa hoa đầy "sắc, tướng" bên trời Âu

Những Thiền sư “thứ thiệt, vàng ròng”, khác Nhất Hạnh ở chỗ là họ đã thấy được “bản tánh của vọng tưởng” của họ nên thường “phóng khoáng hình hài” hầu như quên bẵng cả cái thân tứ đại ngũ uẩn, nhìn vào thấy có vẻ điên điên, gàn gàn, lôi thôi lếch thếch, có vẻ thiếu vệ sinh, thân thể bốc nặng mùi như... Triết gia Bùi Giáng:

Gặp người tôi tưởng người điên
Gặp tôi tôi tưởng tôi điên hơn người.
...
Lâu ngày nhìn lại con... cu
Mới hay trời đất rối bù tóc râu.
Không tu sao lại trọc đầu
Không thiền sao lại bốc mùi gió sương!
(Bùi Giáng)



Cố Thi-Sĩ Bùi Giáng

Tại sao dám so sánh “thằng nhỏ” ngang bằng với trời đất? Phải chăng thiếu nó thì tam tài “Thiên, Địa, Nhân” trở nên khập khiễng? Phải chăng khi bắt “thằng nhỏ” thi hành thiên chức duy trì và giúp “Nhân” loại sinh sôi nẩy nở, thì “thằng lớn” thường la rầm “Trời”, la bể “Đất”, “Oh! My God! I'm coming...

Trời đất sinh ta có ý không?
Chưa sinh trời đất có ta trong.
Ta cùng trời đất ba ngôi sánh,
Trời đất in ta một chữ đồng.
Đất nứt ta ra trời chuyển động,
Ta thay trời mở đất mênh mông.
Trời che đất chở ta thong thả,
Trời đất ta đây đủ hoá công.
(Trần cao Vân)

Dường như ở vùng Riverside có con đường được đặt tên là “Tê Mê Cu La” (Temecula) thì phải? Có lẽ nên đề nghị hội đồng thành phổ đổi thành đường Thiền sư Bùi Giáng!

Là người ẩn dật,
Thân thế cạn chìm, lợi danh lẩn khuất,
Quên cả cuộc đời, cầm bút cũng quên,
Ngoài mọi thế cờ, trên hết xuống lên,
Không đi chệch lẽ huyền vi của Đạo,
Giữa chợ đời, làm một anh lơ láo,
Không đui mù mà mắt vẫn thong manh,
Không điếc mà tai chẳng lọt âm thanh,
Lòng buông thả theo chuyển vần tự tại.

Thiền, Tu thiền... ngứa miệng nói khơi khơi thì dễ đấy, nhưng đạo giải thoát lại rất khó có thể tìm được ở giữa chốn phồn hoa danh lợi ái ân chẳng khác gì nước trong sạch không thể tìm thấy ở nơi mương cống...

Con đã nghe nhiều mà không thấu triệt,
Có giảng bao nhiêu cũng chỉ uổng công,
Từ chốn lụa là đến chỗ nâu sồng,
Diệu vợi lắm, phải gắng đi mới tới!
...
Chớ tưởng niệm quàng xiên không quét nổi!
Hãy xua đi mây tối phủ da trời!
Hãy quăng đi cái gánh nặng sự đời!
Ngồi cho vững trên chõng tre chiếu cối!
Ta hãy là ta, vĩnh hằng không đổi!
Ta hãy là ta, tuyệt đối là ta!
Nam mô A di đà phật!

Chữ “Thiền” liên hệ đến chữ “Thiên” (hướng thượng), chữ “Thiện” (tâm lành), chữ “Thiến” (cắt đứt dục vọng); do đó cứ lẩm bẩm “Thiền, Thiên, Thiện, Thiến” thì đắc cách, có thể “đáo bỉ ngạn”, dzọt qua “bờ bên kia”.

Nhà sư là người thế phát quy y
Nắm được cơ duyên, chuyên tâm diệt dục
Khép chặt cửa thiền, rũ tan trần tục,
Coi cuộc đời như chớp thoáng mây bay...
Trọn kiếp giới trai, ngoài vòng thế tục
Niệm chữ Nam mô, dốc lòng diệt dục,
Gột tham, sân, si; gác lợi, danh, tình
Màng tưởng tới chi phù thế nhân sinh...
Nhường hết cho đời truy hoan nhân thế
Tự chôn sống mình trong cô tịch triền miên.
Lấy khổ hạnh tuyệt cùng làm lẽ sống
Lấy hư vô làm cực lạc trần gian.

Nhưng nếu lỡ trớn tụng thêm chữ “Thiển” (thiển cận) rồi đớ lưỡi không phát được âm “th”, thay vì “(th)iền sư” lại xưng là “tiền sư” thì đọa ngay, mãi mãi phải đứng lại ở “bờ bên này”. Thích Nhất Hạnh đã tụng quá nhiều lần chữ “Thiển”, chữ “tiền” nên càng ngày càng lún sâu vào ma chướng. Tuần vừa qua thiên hạ lại náo loạn, ồn ào với “Sáu điểm đề nghị của Thiền sư Thích Nhất Hạnh về sự cởi mở của Đảng Cộng sản Việt Nam & Bẩy điểm đề nghị về Chính sách của Nhà nước Việt Nam đối với Phật giáo”. Bao nhiêu anh “trí thức, trí ngủ” Phật giáo email cho tôi, đưa copy cho tôi đọc, hí ha hí hửng làm như mới vớ được Pháp Bảo. Đọc xong tôi chỉ thấy Nhất Hạnh hồi trước sở trường về “tráo bài ba lá”, bây giờ bắt đầu dại dột chuyển sang sở đoản là tập tành chơi xập xáp, mười ba lá (6+7=13). Thiên hạ thường thêm chữ “Chướng” vào sau chữ “Xập Xám”. Số 13 là con số xui, loay hoay hoài với 13 lá bài trên tay mà không biết sắp xếp làm sao cho ra hồn, binh đường nào cũng thấy “chướng”, quờ quạng một hồi thế nào cũng binh “lủng”. Thay vì binh “thủ” lại “dương” bậy thành ra Thiến Nhất Hạch. Ước gì Nhất Hạnh có được thái độ ít ra như Pháp sư Thích Giác Đức, hoặc giáo sư triết Nguyễn Ngọc Lan, hoặc trắng trợn hẳn như Thiền sư vén váy Thanh Hải sử dụng nhuần nhuyễn hai quái chiêu như môn bài cửa hàng xén là “Tức khắc khai ngộ” và “Hiện đời giải thoát” để thu hút những kẻ thích tu tắt, muốn đốt giai đoạn trên con đường tu hành, mà quên rằng ngay chính Đức Thích Ca Mâu Ni còn phải thổ lộ: “Ta tu muôn lượng kiếp mới thành!”.



Suốt mấy chục năm qua, tên phàm tăng Thích Nhất Hạnh - Nhất Hạch mặc áo nâu sòng, luôn sánh đôi với sư bà "Chân Không" Cao Ngọc Phượng (em ruột ca sĩ Cao Thái, ngang tuổi với Nhất Hạch xấp xỉ 80, chuyên hát nhạc Pháp và nhạc Tây Ban Nha).

Đến thăm Làng Mai thấy vắng teo
Tìm thăm Nhất Hạnh đáo-nơi-neo?
Chày kinh vãi Phượng suông-không-đấm
Tràng hạt sư ông cứ đếm-đeo?
Thuyết giảng đạo tu đời sư sướng
Thiện nữ quanh năm vẫn bám theo
Thiền sư Nhất Hạnh đèo-ông-đố
Một kiếp đại-du nợ tình đeo
(Đến Thăm Làng Mai - Hồ Xuân Hương 2005. Trích báo Con Ong Việt, số 60, tháng 5, 2005)

Mượn áo thầy tu núp bóng sư
Đầu không có tóc để trơn tru
Ni cô nhập thất chờ dâng Quả
Sư cụ khai môn chứng đạo trù
Khi tịnh khi khai khi nhúc nhích
Lúc thiền lúc nhập lúc ư ư
Càng tu càng thấy trò ''Bất Hạnh''
Cái lỗ Chân Không thẳm thẳm mù.

...

Thiền sư Nhất hạnh đả thông.
Thông từ triết lý đến mông đàn bà.
Từ câu tư tưởng luận bàn.
Thầy thông qua suốt đến ngàn mênh mông.
Thầy thương góc cạnh Ngọc phương.
Thầy ơi vô lượng thảm thương hồng trần.





Mỉa mai thay!
Sa sả dậy đời diệt dục
Lại tự vùi thân dưới đáy huyệt tình!
Thích Nhất-Hạnh ơi! thích Dzũ-Công (thích dổng ku) ơi!
Hình người tính phật xẻ làm đôi
Đã tu sao chẳng tu cho trót
Vướng tục thà cam tục đến nơi
Lửa cháy giàn thiêu tro qủy dục
Cành dương giọt nước bụi ma đời
Đôi dòng nước mắt tuôn hàng chữ
Đổ xuống thành thơ vĩnh biệt người!

Nhất tự vi sư, bán tự vi sư”. Theo đạo Khổng thì: “Dạy một chữ cũng là thầy, mà dạy nửa chữ cũng là thầy”; còn trong Không Môn lại có nghĩa “Trụ trì một ngôi chùa là nhà sư, mà bán chùa cũng vẫn là nhà sư đó”. Vậy Nhất Hạnh là gì? Ông ta có bán chùa, hay chỉ “bán đạo tạo đời”, điều này không dám vọng ngữ? Duy một điều chắc chắn là Thiền sư này chỉ tu theo Độc Hạnh “tung ám khí”. Độc Hạnh (Độc là một, là nhất, mà cũng là thâm độc) tức là luôn trung thành với Đảng Cộng sản Việt Nam nhưng nhận thêm chỉ thị của bàn tay lông lá để phối hợp nhịp nhàng trong vai trò tình báo chiến lược hai mang qua cái vỏ bọc Thiền sư. Trong thời chiến tranh lạnh, khối cộng sản quốc tế hằng năm chi 4 hơn tỉ đôla cho những chiến dịch tung hỏa mù (disinformation) nhằm lung lạc dư luận thế giới. Chúng ta thử suy nghĩ xa hơn chút xíu:
- Khi Bill Clinton đang bị gây khó qua vụ Monica Lewinsky, được dịp tụi Cộng Hòa cố gắng làm lớn lại cái chuyện trốn lính thời chiến tranh Việt Nam khi Clinton sắp sửa phải tái tranh cử cho nhiệm kỳ thứ hai... thì hồi ký Mc Namara ra đời, công nhận Mỹ sai khi tham chiến ở Việt Nam, gián tiếp biện minh thái độ “tránh né” sự tham chiến của Clinton. Mc Namara đã thành công tuyệt vời trong vai trò Lê Lai cứu chúa, cũng chỉ vì quyền lợi tối thượng của đảng Dân Chủ.





- Khi vụ 9/11 vừa xẩy ra, cả thế giới rúng động nhưng thượng tầng lãnh đạo (khác với guồng máy chính quyền mà thiên hạ thấy) nước Mỹ mỉm cười hài lòng trong bóng tối vì đã tạo được một động cơ tâm lý rất cần thiết để vận động tâm lý nhân dân Hoa Kỳ cho những toan tính chiến lược lâu dài ở vùng Trung Đông, bất chấp dư luận thế giới (vào website www.letsroll911.org <http://www.letsroll911.org>, (quay lại cuốn phim 911) thì sẽ thấy một phần nào những âm mưu khủng khiếp của tư bản). Chữ Bush khi được tách ra thì biến thành Beat Up Saddam Hussein (Dập te tua cái thằng sát/dâm/hút săng). Ông Bush bố không thể dứt điểm hẳn hòi Saddam vì một số phức tạp chiến lược có thể ảnh hưởng nặng nề đến guồng máy kinh tế Hoa Kỳ thời đó. Bush bố làm chưa xong thì Bush con phải tiếp tục vì cái tên gọi đã ám thị. Trong 8 năm trị vì của Bill Clinton, những sắp xếp âm thầm được thực hiện ráo riết ở sân chơi Trung Đông, chẳng hạn như thúc đẩy tiến trình dân chủ hóa ở Iran, kẻ thù chính yếu của Mỹ ở vùng đó, Clinton tương đối rảnh rang về đối ngoại, thỉnh thoảng lẩm bẩm tên cúng cơm của chính mình, Clinton: Call Lewinsky Immediately Now To Orally N... Vụ 9/11 là chuyện lớn đang gây sửng sốt cho toàn thế giới, chẳng khác gì vụ Nhật bất thần tấn công Trân Châu cảng. Chuyện lớn đang thu hút sự quan tâm của bàng dân thiên hạ, thì những chuyện nhỏ cũng phải nhẩy vô ăn ké. Vồ được cơ hội hiếm hoi hay được bàn tay lông lá ra lệnh, Nhất Hạnh liền giở độc chiêu trắng trợn dựng chuyện “300 ngàn sinh mạng dân Bến Tre chết vì bom Mỹ”, cố gây một tác động tâm lý tương tự hồi ký của Mc Namara, là chứng minh một lần nữa sự can thiệp trước kia của Mỹ ở VN là sai, “vô tình” biện minh đường lối “hòa hoãn” hiện tại của đảng Cộng Hòa với Cộng sản Việt Nam là đúng, cứ tiếp tục “road map” đã được đưa ra từ thời Tổng thống Bush bố... Ô hô! Ai Tai! Thượng hưởng! Việt Nam sẽ lại đóng vai trò “tiền đồn” trong chiến lược be bờ, vây hãm Trung Cộng! Đúng là thân phận nhược... nhược... siêu nhược tiểu!







"Bush bố" đưa cho bọn Vẹm "lộ trình 4 bước", "Bush con" sang thăm bọn Vẹm thì đích thị đảng Cộng Hòa chủ trương "giao lưu", "giao hợp" với bọn Vẹm rồi còn gì!!! Lý tưởng "Nhân Quyền", "Tự Do Tôn Giáo" v.v... chỉ là những chiêu bài sau ưu tiên số một là "quyền lợi của Tư Bản".

Bang-giao Việt Mỹ
Cộng-sản Việt-Nam "kết" Mỹ rồi!
Chú Phan-văn-Khải vội sang chơi...
Kính chào bác Bush, em và bác
Quá-khứ quên đi! hiện-tại thôi.

Mười năm kỷ-niệm lập bang-giao
Khải đến thăm ngài, trân-trọng chào,
Thân-mật bắt tay, cười hữu-nghị
W T O... cho em vào. (*)

Chiêu-bài chống Mỹ! đảng lờ đi.
Mác-xít, Lê-nin! chẳng ích gì.
Mời Clinton đến, nay mời Bush.
Trung-cộng thù chung! bác chớ nghi.

Nước Mỹ cách xa nước Việt-Nam
Bang-giao, dân Việt bớt lầm-than.
"Bắc-kinh bành-trướng", quân xâm-lược!
Nô-lệ ngàn năm! máu lệ tràn.

Người Việt
(*) WTO (World Trade Organization): Tổ-chức Mậu-dịch Thế-giới

Nhắn Gởi: Lương, Mạnh, Khải!
Này Lương Mạnh Khải thôi tham vọng
Ba triệu người dân bỏ núi sông...
Phiêu bạt năm Châu tìm đất sống
Sau ngày "giải phóng" bị cùm gông.

Rất là sơ đẳng nên ghi nhớ!
Dân Việt quyết đòi không thả trôi;
Thứ nhất, quay về văn hoá Tổ
Thứ hai, chớ để ngoại bang cười:

Xoá đi chủ nghĩa vô thần, Mác
Giật sập lâu đài - di sản Mao
Dẹp cả Ba-đình, lăng của "bác"
Mới mong cải cách được đời sau.

Những vùng đất, biển âm thầm ký
Đổi lấy quyền uy để hại dân
Không thể ngược đời như thế vậy!
Ngàn năm phương Bắc vẫn chưa quên.

Hỏi Trà, làm tướng - đâu phương lược?
Trấn ở biên thùy chiến thuật đâu?
Cửa ải Nam Quan muôn thuở trước
Giờ đây im bặt, tưởng yên sao?

Các ngươi có hiểu gì nô lệ?
Sống cảnh "làm dâu" ở Đại, Loan...? (1)
Độc địa vô cùng do đảng trị
Buôn dân đến tận cửa lầu xanh.

Còn về Tôn-giáo do tâm đạo
Nhất mực, muôn lòng khó đổi thay
Đừng lấy đảng quyền chơi bá đạo
Vẻ trò múa rối kiểu tay sai. (2)

Non sông muốn được lân bang nể
Phải biết hiệp chung mới dựng xây
Sức mạnh của dân như núi bể
Ngàn năm giặc Hán cũng phơi thây.

Đừng theo vết cũ như Hồ nhé!
Rước cả Tàu Nga phá nước non
Tư tưởng Mác-Lê đầy nghịch lý
Thế mà "trí thức" lại tô son...

Chính vì ấu trĩ, nên hư ảo
Vượt cả Trường Sơn giết lẫn nhau
Chẳng hiểu chi mô về chính đạo
Liệt cường ba nước chỉ đua nhau...

Tội cho lớp trẻ - nào đâu biết
Một mớ văn nô, một lũ khờ
Nhồi sọ thuở còn chưa biết viết
"Bác Hồ" thần thánh mãi tung hô...

Các ngươi chưa hiểu gì vinh nhục
Mỗi lúc ra ngoài bị tấn công
Cả một rừng cờ như thúc giục (3)
Quay đầu trở lại với non sông!!!

Làm sao giấu mãi lương tri chứ!
Thế giới ngày nay đã hiểu qua
Nước Việt Cờ Vàng, Ba Sọc Đỏ
Của nền nhân bản thuở xa xưa.

Đừng nên vọng ngoại chi thêm tủi!
Sám hối cho lòng sớm thảnh thơi
Một kiếp, trăm năm thành cát bụi
Quốc gia là chuyện của muôn đời.

Vĩnh Nhất Tâm
(1) Đại Loan: tức là Đại Hàn và Đài Loan
(2) Câu này của tác giả ám chỉ về Sư ông Nhất Hạnh
(3) Nga Mỹ Anh

Pascal đã nói: “Ngày nay chân lý (Higher Truth) bị lu mờ và giả dối được quá nêu cao, không có lòng yêu chân lý thì người ta không thể nhận biết đâu là chân lý”. Nhưng vì nghiệp chướng còn dầy nên chúng sinh chỉ thích nghe, thích thấy những gì hợp với điều mong ước của mình chứ không muốn nhìn thẳng vào sự thật; do đó bất chấp những điều hiển nhiên mà chính Thích Nhất Hạnh đã hớ hênh hoặc cố tình ngông nghênh phơi bày ngay giữa thanh thiên bạch nhật mà đám đông vẫn chưa nhìn ra Nhất Hạnh và Độc Hạnh chỉ là Một.

*


TÂM DAO GĂM

Một việc chúng tôi rất ngại và cố né là viết đụng tới các vị tu hành. Một phần là vì lý do thực tế. Ai đó dám viết đụng tới một vị nào đó thì tất sẽ có kẻ bênh người chống, mà những kẻ đã nhắm mắt bênh các vị tu hành thì khủng khiếp lắm, họ sẽ bênh theo kiểu thánh chiến, chứ không nghe phân trần phải trái. Một phần là vì bản thân chúng tôi, cũng giống như quý vị, đều giữ lòng tôn kính và kỳ vọng đặc biệt vào các vị lãnh đạo tinh thần.

Nhưng trong đời, có lúc cũng đành phải làm một vài chuyện chẳng đặng đừng. đã có gan cầm bút thì mình không thể làm ngơ trước sự giả trá quá lộ liễu, và sự bất công có khả năng dẫn tới sự tàn phá quá lớn lao. Nhất là nếu sự giả trá bất công đó lại đến từ một vị tu hành có ảnh hưởng lớn như Thiền sư Thích Nhất Hạnh. Nói tới Thiền sư Thích Nhất Hạnh có lẽ phần đông người Việt Nam đều nghe danh, và đối với phần đông người Việt Nam và người ngoại quốc, Thiền sư Thích Nhất Hạnh đã xuất hiện như một người đạo cao, đức trọng. Chính vì cái hình ảnh đạo cao, đức trọng này, cộng với tài tổ chức, tài thuyết pháp và tiền rừng, bạc biển, mà Thiền sư Thích Nhất Hạnh có khả năng góp phần gây ảnh hưởng tốt hay xấu trên dư luận thế giới về một vấn đề nào đó. Nói cách khác, nếu cái tâm của Thiền sư Thích Nhất Hạnh đúng là tâm Phật thì thật phúc cho nhiều người, còn nếu cái tâm của Thiền sư chỉ là một bồ dao găm thì thật là họa cho chúng sinh!

Tại sao hôm nay chúng tôi lại buồn lòng phải thưa chuyện với Thiền sư Thích Nhất Hạnh, với Phật tử và với mọi người Việt Nam một cách thẳng thắn? Xin thưa: vì Thiền sư Thích Nhất Hạnh lại vừa làm thêm một chuyện động trời. Sau khi nước Mỹ bị bọn khủng bố tấn công tàn bạo, và trong khi nước Mỹ gạt nước mắt để cương quyết đứng lên cùng cả thế giới ngăn chặn những đợt khủng bố kế tiếp, đồng thời truy lùng bọn khủng bố có tổ chức quy mô và có khả năng tiêu diệt nền văn minh nhân loại bằng những thứ vũ khí độc hại nhất, thì Thiền sư Thích Nhất Hạnh đã cấp tốc tổ chức một buổi thuyết pháp tại một nhà thờ ở New York và đã chi một số tiền kếch sù để đăng quảng cáo buổi thuyết pháp này trên một tờ báo có ảnh hưởng rất lớn ở nước Mỹ là tờ The New York Times.

Nếu đây chỉ là một bài thuyết pháp kêu gọi hòa bình, hay dạy dỗ người Mỹ biết cách kềm giữ để sự giận dữ không biến thành một cuộc trả thù bừa bãi, thì chúng tôi vẫn sẵn lòng lắng nghe, cũng như chúng tôi đã lắng nghe nhiều vị giáo chủ thuộc mọi tôn giáo đã lên tiếng cầu nguyện cho thế giới được hòa bình, đồng thời kêu gọi chính phủ Mỹ hãy sáng suốt và tự chế trong công tác truy lùng những thủ phạm gây tội ác, nhất là khuyến khích thăng tiến sự đối thoại, cảm thông và tôn trọng lẫn nhau để làm căn bản chung.

Bài thuyết pháp được mở đầu bằng tám câu thơ, xin tạm dịch:
Tôi bụm mặt trong hai bàn tay
Không, tôi không khóc
Tôi bụm mặt trong hai bàn tay
Để sưởi ấm nỗi cô đơn
Trong bàn tay bảo vệ
Trong bàn tay nuôi nấng
Trong bàn tay ngăn cản
Hồn tôi đừng bỏ tôi một mình trong cơn giận dữ.

Bài thơ thật tuyệt vời, nhưng là sự tuyệt vời khởi đầu cho một âm mưu gian dối! Bởi vì ngay sau đó, Thiền sư Thích Nhất Hạnh đã nói với cử tọa Mỹ rằng bài thơ đã được làm trong cuộc chiến tranh Việt Nam, khi Thiền sư nghe tin thị xã Bến Tre với 300 ngàn dân đã bị máy bay Mỹ bỏ bom phá hủy, chỉ vì có 7 quân du kích đã bắn vài loạt đạn súng phòng không lên trời rồi bỏ chạy. Vụ phá hủy thị xã Bến Tre ấy đã làm Thiền sư đau đớn vô cùng.

Bịa. Bịa trắng trợn và ác ý!

Gian. Gian trơ trẽn và ác độc! Viết tới đây, tôi phải bụm mặt tôi vào hai bàn tay, để sưởi ấm nỗi cô đơn thất vọng của tôi, và để ngăn cản hồn tôi đừng bỏ tôi một mình trong cơn giận dữ. Bởi vì chuyện bịa không ngượng mồm và gian dối không ngượng mặt này đã không đến từ một người tầm thường, mà đến từ một Thiền sư được nhiều người tán tụng. Ở đây cũng không phải là lần bịa chuyện gian dối đầu tiên của Thiền sư Thích Nhất Hạnh. Hồi còn chiến tranh Việt Nam, để kích thích phong trào phản chiến, Thiền sư đã bịa chuyện nhìn thấy trực thăng Mỹ sà xuống đồng ruộng bắt gái quê đem đi hiếp. Sau đó có người hỏi rằng chuyện ấy đã xảy ra ở tỉnh nào, xã nào, Thiền sư đã không trả lời. Những chuyện gian dối này, Thiền sư Thích Nhất Hạnh chỉ bịa với người ngoại quốc, mặt khác Thiền sư thừa biết rằng nếu bịa trước cử tọa Việt Nam thì Thiền sư sẽ bị lật mặt nạ ngay. Muốn phân tích chuyện bịa trắng trợn mở đầu cho bài thuyết pháp hôm 25 tháng 9 vừa qua, thiết tưởng nên chép lại đây nguyên văn lời Thiền sư Thích Nhất Hạnh thuyết pháp bằng tiếng Mỹ: I wrote this poem during the Vietnam war after I heard about the bombing of Ben Tre city. The city of 300,000 was destroyed because seven guerrillas shot several rounds of unsuccessful anti-aircraft gunfire and then left. My pain was profound.

Người Việt Nam mình đọc đoạn thuyết pháp này thì chỉ cười khẩy, vì hiểu là chuyện bịa trắng trợn. Ai cũng biết rằng chẳng có một toán chỉ 7 quân du kích nào mà có súng phòng không. Mà giả sử có anh du kích nào gặp hên lượm được khẩu súng phòng không do ai đó đánh rơi ở dọc đường mà bắn lên trời đi nữa, thì máy bay Mỹ cũng chẳng đủ bom và đủ tàn ác để phá sạch (destroy) thị xã Bến Tre với 300,000 dân. Chứng minh rõ ràng nhất là thị xã Bến Tre vẫn còn đó, người Bến Tre vẫn còn đây, trong và ngoài nước, để làm chứng cho sự bịa đặt gian dối ác ý này.

Bây giờ, nếu có ai lại đặt câu hỏi rằng chuyện Mỹ bỏ bom phá sạch thị xã Bến Tre với 300,000 dân ấy xẩy ra ngày nào, tháng nào, năm nào, thì lại một lần nữa Thiền sư Thích Nhất Hạnh cũng chỉ "lầm lì" nhắm mắt "ngồi thiền" im lặng! Nhưng như đã nói ở trên, đối tượng tuyên truyền của Thiền sư Thích Nhất Hạnh trong bài thuyết pháp đắt tiền vừa qua là người Mỹ. Mà người Mỹ, khi nghe lời thuyết pháp từ một Thiền sư với dáng dấp khoan thai, giọng nói từ bi như vậy, thì họ tin lắm. Họ chẳng biết Bến Tre ở đâu. Lẫn trong giọng thuyết pháp từ bi đều đều là hình ảnh của một thành phố với 300,000 người đàn bà, đàn ông, người già, trẻ thơ vô tội bị giết sạch. Cái câu cố ý lấp lửng. All the city of 300,000 was destroyed có hậu ý và tác dụng gây mặc cảm phạm tội vô cùng khủng khiếp. Để phá hủy cả một thành phố như vậy, máy bay Mỹ phải lồng lộn như bầy quạ, máu tóe, thịt văng, khói lửa ngút trời. Người Mỹ rùng mình vì sự tàn ác. Của ai? Của máy bay Mỹ? Của chính phủ Mỹ! Phút chốc, cái hình ảnh hai chiếc máy bay bị quân khủng bố cho lao vào tòa nhà Trung Tâm Thương Mại Thế Giới ở New York biến mất trong đầu người nghe. Bởi vì sự tàn ác của bọn không tặc nào có thấm gì so với sự tàn ác của Mỹ? Một tòa nhà bị phá hủy làm sao so sánh được với cả thành phố? Vài ngàn người chết làm sao so sánh được với con số 300,000 người? Cử tọa Mỹ nghe thuyết pháp trực tiếp và đối tượng của sự kinh tởm và oán ghét được chuyển từ quân khủng bố sang quân đội Mỹ và chính phủ Mỹ. Mục đích của bài thuyết pháp đã thành công! Sự bịa chuyện gian dối đã được đền bù! Cái hậu ý ác độc được che dấu bằng nụ cười tươi nở búp sen. Cái tâm dao găm được khép kín trong hai con mắt nhắm ngồi thiền. Bài thơ có lẽ vừa mới được làm chưa ráo mực, được nói dối là đã làm hồi chiến tranh Việt Nam để làm tiền đề cho một lời nói dối khác có tính cách vu vạ ác độc, nhằm mục đích phá hủy chính nghĩa và lòng tự tin của những nạn nhân vừa bị tai họa khủng bố giáng xuống. Ác thật ác! Ác độc thật độc!

Ác ấy, độc ấy vừa được phun ra từ cửa miệng của một Thiền sư, được phóng ra từ tâm của một Thiền sư! Người Việt Nam nói chung và người Phật tử Việt Nam nói riêng không thể giữ im lặng đồng lõa với cái ác độc bội phản này. Với cái tâm dao găm phảng phất mùi thiền, trong quá khứ Thiền sư Thích Nhất Hạnh đã đâm những nhát chí tử vào ý chí chiến đấu tự vệ của người miền Nam Việt Nam. Nay cũng với cái tâm dao găm phảng phất mùi thiền ấy, cộng với danh tiếng và thế lực tiền tài lớn hơn xưa. Thiền sư Thích Nhất Hạnh bằng sự biạ đặt gian dối ác ý, đang âm mưu hạ gục ý chí chiến đấu của người Mỹ trong cuộc chiến chống khủng bố gian nan khốc liệt này. Ác! Ác quá! Người Việt Nam chúng ta thuộc mọi tôn giáo không thể đồng lõa vì nếu chúng ta im lặng thì cái tâm dao găm của Thiền sư Thích Nhất Hạnh đã đâm một nhát thấu được qua hai con tim: con tim người Mỹ với mặc cảm phạm tội ác chiến tranh và con tim của người Việt chúng ta với mặc cảm đồng lõa với sự bịa đặt gian dối ác độc. Chúng ta cần hiệp lực chữa cái ác độc do một Thiền sư Việt Nam gây ra. Xin đề nghị ba việc:

- Thứ nhất, xin kính bạch Thiền sư Thích Nhất Hạnh. Cuộc chiến Việt Nam đã kết thúc 26 năm, kẻ gây chiến là đảng Cộng Sản Việt Nam đã thắng, nạn nhân là cả dân tộc Việt Nam đã thua, thế mà tới bây giờ Thiền sư vẫn còn trường kỳ mai phục để tiếp tục bịa những chuyện động trời một cách ác ý và có tính toán như vầy, thế thì xin hỏi: Thiền sư là ai? Thiền sư là ai mà cứ mỗi lần nước Mỹ đang lâm chiến hay sắp sửa lâm chiến thì Thiền sư lại mượn mùi thiền để bịa chuyện nhằm gây mặc cảm phạm tội chiến tranh trong dân chúng Mỹ, với mục đích thúc đẩy hoặc vực dậy phong trào phản chiến trói tay chính phủ Mỹ hành động? Trong quảng cáo trên báo The New York Times, Thiền sư tự giới thiệu là một a peace maker. Tạm dịch là người xây dựng hòa bình. Kính bạch Thiền sư, hòa bình không thể xây dựng bằng cái tâm gian dối "ác độc" và phản bội! Cái tâm dao găm cũng không phải là cái tâm của một Thiền sư. Phản chiến có hai mặt tích cực và tiêu cực. Rất tiếc, qua hành động, Thiền sư đã và đang hiện hình là một người phản chiến với cái nghĩa tiêu cực. Thiền sư đã và đang khoác áo thiền, mượn danh yêu hòa bình, để giả đò can gián bằng cách ôm cứng nạn nhân cho thủ phạm hung hăng đánh gục. Với thủ đọan gây mặc cảm phạm tội ác chiến tranh trong lòng những nạn nhân vừa bị khủng bố, Thiền sư cũng đã đích thực là một thành phần khủng bố! Nguy hiểm hơn cả những tên khủng bố lái máy bay đâm vào tòa nhà Trung Tâm Thương Mại Thế Giới, vì sự khủng bố của Thiền sư nhằm đánh gục tinh thần và ý chí chiến đấu chống khủng bố của những người nghe Thiền sư thuyết pháp và đọc quảng cáo của Thiền sư trên báo.



- Thứ hai, chúng tôi xin thưa chuyện với người Việt Nam, đặc biệt là người Bến Tre. Chúng ta biết đây là một bịa đặt ác ý bởi một vị lãnh đạo tinh thần Việt Nam. Chúng ta xấu hổ. Nhưng xấu hổ không đủ, chúng ta cần góp phần giải độc cái bịa đặt ác ý này. Đối tượng rải độc của Thiền sư Thích Nhất Hạnh là người Mỹ, nên đối tượng giải độc của chúng ta cũng phải là người Mỹ. Chúng ta cần thông báo cho chính phủ Mỹ và các cơ quan truyền thông Mỹ về sự kiện gian dối và hậu ý ác động này.

- Thứ ba, chúng tôi xin các hội đoàn và đặc biệt là các vị Luật sư cùng nghiên cứu, để một mặt đặt vấn đề với Thiền sư Thích Nhất Hạnh, một mặt đặt vấn đề với báo The New York Times. Chúng ta là những người sống có lý và có tình. Chúng ta không thể im lặng đồng lõa với sự gian dối lọc lừa và âm mưu phản bội. Ở đây là vấn đề lương tâm và cũng là liên quan tới cái sống cái chết của chúng ta, không hề nhuốm một tí màu sắc tôn giáo nào.

Xin trân trọng kính chào,

TÔN NỮ NHƯ KHÔNG
Wednesday, July 30, 2003


*

Sư Nói Láo - Sư Có Vợ

Sư nói láo chính nòi sư Vẹm
Ở làng Hồng tu luyện thành tinh
Bùa mê thuốc lú đầy mình
Ngày chay đêm mặn thỏa tình sư chơi.

Tới Nữu Ước buông lời dối trá
“Ba trăm ngàn dân xã Bến Tre,
Bị bom Mỹ giết thảm thê!”
Hỡi sư nói láo người nghe rùng mình.

Cả thiên hạ bất bình lên tiếng
Sư đánh bề ngậm miệng làm thinh
Mác Lê kinh kệ đã rành
Mưu gian chước qủy lưu manh hại đời!

Sư có vợ chính nòi dâm đãng
Ở làng Mai bầu bạn đêm khua
Tụng kinh gõ mõ đề huề
Trên sư dưới Phượng, má kề vai ôm.

Sư bán hồn cho loài qủy đỏ
Có đô la xây tổ uyên ương
Lại còn giở thói bất lương
Hùa theo “khủng bố” để chường mặt gian!

Ới cái lũ dâm tăng gian ác
Áo cà sa vai khoác lừa người
Cạo đầu dối thế dễ ngươi
Ngày sa địa ngục hết đời Ma tăng.
(Đả Cẩu Đại Hiệp - Trích báo Góp Gió số tháng 3, 2005)

*

Như hoa rồi sẽ tàn, tuổi trẻ
Sẽ qua đi, mỗi giai đoạn đời ta cũng thế
Đức hạnh cũng thế, những sự thật ta tìm kiếm cũng thế,
Nở buổi sớm hôm, mai không còn nữa
Vì sự sống có thể bỏ rơi ta ở bất cứ tuổi nào
Hãy sẵn sàng, trái tim ơi, để từ giã, để vào trận mới
Hãy sẵn sàng một cách dũng cảm, không hối tiếc
Hãy tìm ánh sáng mới không có ở hôm qua
Tất cả những bắt đầu đều hấp dẫn kỳ lạ
Sẽ dẫn dắt ta, sẽ cho ta sức sống
Phiền muộn hãy để chúng tôi rời xa nơi ấy
Đừng giữ chúng tôi bằng những nỗi niềm riêng
Và vũ trụ xin đừng cản bước chân
Hãy nâng đỡ chúng tôi từng bước từng bước lên cao
Nếu ta bám víu vào ngôi nhà ta tạo dựng
Những thói quen sẽ làm ù lỳ chúng ta
Phải sẵn sàng để chia tay, từ giã
Nếu không muốn trở thành nô lệ của thường hằng
Nếu như cái chết
Có nhanh chóng đưa ta đến những không gian mới mẻ
Và cuộc đời lại mời gọi những cuộc chơi
Hãy chấp nhận, trái tim ơi : chào giã từ không tiếc nuối
(Herman Hesse)

Thú thiệt với qúi vị độc giả của Việt Weekly là gõ máy tới đây tự nhiên tui muốn ngưng ngang. Bây giờ là 4 giờ sáng, mới gõ chưa tới 2 giờ đồng hồ mà tui đã cảm thấy “oải” không còn chút hứng thú nào khi viết về những vị tu hú, nhất là về tên Thiến Nhất Hạch, mặc dù hiện tượng Nhất Hạnh đã gợi tí ti hứng cho tôi viết bài tạp ghi này. Thiên hạ đã viết, đã nói quá nhiều về Nhất Hạnh, trên mặt báo ở khắp nơi, trên những diễn đàn tranh luận internet, trên những làn sóng phát thanh v.v... Nhân loại còn chém giết dài dài, riêng dân tộc Việt Nam còn tiếp tục khốn khổ khốn nạn miên viễn xót xa vì đủ thứ tông giáo, mà những thế lực quốc tế đã và đang âm thầm tác động. Đây là đề tài đáng nói nhất, nên được phân tích bằng lý trí một cách tận tình, một cách thật rốt ráo qua những thực tế khách quan được hỗ trợ bởi những khám phá mới nhất về vũ trụ, về lịch sử của Thái Dương hệ, về trái đất, về lịch sử chính trị thế giới, về bản thể con người, về DNA, về Cloning v.v... Sau khi đã đả thông mọi khúc mắc bằng lý trí thì mỗi cá nhân muốn sống bằng niềm tin, đức tin nào cũng được, vì đó là quyền tự do tối hậu của riêng họ và họ cũng phải sẵn sàng ăn thua đủ dựa lưng vào niềm tin sống, đức tin sống đó chứ không mù quáng dựa vào niềm tin chết, đức tin chết nào đó để tối ngày cứ lèng èng gây khổ cho những người theo những tông giáo khác.

Quê hương gốc tích ngàn năm
Sao nhìn gia phả... ôi, toàn câu kinh?!
(Nguyễn Tất Nhiên)

...
Quốc Sỉ - Lý Đông A (4824 T.V.)

Nhấp chén rượu mài dao giận chém đá
Tác cô thần nghiệt tử có ai chia?
Buổi Âu phong Á vũ vẫn còn mê,
Chưa thức dậy cùng ta tuyết quốc sỉ?
Vuông nhiễu đỏ cho cho hoan nét rỉ
Thẹn những phưong tranh chấp mượn tay ai,
Gương Minh vào, Thanh đến, đến Tây lai,
Ngai vàng nặng để ê chề non nước.
Thẹn những kẻ quyền gian cướp xã tắc,
Bêu sống thừa, thác nhục chốn tha hương
Dâng sổ đồ qùy gối chốn biên cương
Tiếng sét đánh hoảng hồn quân biếm chúa
Thẹn những thuở sinh ra con lợn chó
Thân ăn nằm còn nghĩa đến ông cha
Gác cửu trùng đau thảm chất muôn nhà
Đem dân nước phó cho làn sóng cả.
Thẹn những đứa cân đai mang xóng xả
Chí đội trời đạp đất đã bù nhìn
Chạy trước hươu, gớm lũ chó săn nền!
Chi trách được mụ Cù tâm dạ Hán!
Thẹn những kẻ miếu đình ngồi tướng tán
Chén thanh trà, bôi hoàng tửu đỉnh chung
Mặt diện tưởng sao biết việc ô long!
Con thuyền đổ, sóng bèo ai giữ lái!
Thẹn những bác y ô chi lải nhải
Mải sân Trình, cửa Khổng, mải Ba Lê!
Mộng hầu quan tứ xứ lạc đường quê
Quê nước nhà ở trong hồn người tự chủ.
Thẹn đất nước dưới chân giầy uế sú
Người Lâm Thao, Bến Ngự luống tâm cơ
Mà bướm hồn, xuân nửa não lòng thơ
Để đàn nhạn Cô Tô đài thoi thóp!
Thẹn dân nước trong sống còn ngoi ngóp
Cũng vua quan, phẩm sắc, cũng giàu sang
Miếng thịt sôi luồn lọt mà đỉnh đang
Luống để thẹn nghìn năm người da ngựạ
Thẹn những phường thất phu xanh đỏ khố
Cũng vênh vang ra phết bậc thầy cô
Đoái chăng ai Sát Thát lại Bình Ngô
Quân hồn để sượng sùng gươm Vạn Thắng.
Thẹn những bậc yếu khăn chi lẳng đẳng
Chẳng xem người mũi chỉ dục chinh nhân
Cũng theo đòi những vãi Hậu Đình Ngâm
Để bứt rứt ánh trăng trầm cửa Hát.
Nghĩ đến sự nước nỗi lòng tan nát
Có ai còn nhớ chữ trượng phu chăng?
Núi Lam Sơn còn sống lại Thánh Vương
Để mở lại nước non nòi Đại Việt.

(đón xem tiếp kỳ 03)


Được sửa chữa bởi vu cong ly ngày Ba 4 08, 2008 8:25 pm; sửa lần 10.
Về Đầu Trang
Xem lý lịch thành viên Gởi tin nhắn
vu cong ly



Ngày tham gia: 17 12 2007
Bài gởi: 682

Bài gởiGởi bởi: Hai 3 17, 2008 11:22 pm    Tiêu đề:

Thích Độc Hạnh - kỳ 03

Vũ Công Lý

bắt đầu khởi đăng trên Việt Weekly từ số VW 3-17 (04/21/2005)
http://65.45.193.26:8026/cms/acct/vietweekly/issues/vw3n17/tieuThuyet/thichDocHanh.html

(tiếp theo kỳ 02)



Hồi tháng trước, khi đi xem Thu Phương hát nhạc Trịnh Công Sơn ở vũ trường Majestic, lúc vãn tuồng hát, đèn bật sáng chợt thấy Giáo sư Nguyễn Lâm Kim Oanh, tôi bước vội tới khoanh tay cung kính như người học trò lễ phép thưa bẩm với cô giáo:
- Dạ kính thưa cô, đêm hôm kia em bật “ra dzô” tình cờ nghe cô nói về những tranh luận trong hệ thống giáo dục Hoa Kỳ liên quan đến việc giảng dạy thuyết Tiến Hóa và thuyết Sáng Tạo ở học đường... Nghe đã quá! Em rất mong cô tiếp tục những đề tài như thế... Chúng em đội ơn dưỡng dục của cô vô vàn. Em luôn cầu xin Buddha bless you!...



Giáo sư Quyên Di & Giáo sư Nguyễn Lâm Kim Oanh

Chủ nghĩa cộng sản chân chính đã xuất hiện trên trái đất này khoảng hơn 4 tỉ năm, ngay sau khi trái đất hình thành trong Thái Dương hệ, qua đời sống cộng sinh của những đàn kiến luôn lo cho tập thể chứ không bao giờ lo cho thân phận nhỏ nhoi như “con sâu, cái kiến” của mình! Hơn 4 ngàn năm trước nó đã được hiện thực rốt ráo trong xã hội loài người ở những “nông xã” ở Hy Lạp mà bọn lãnh tụ Khemer Đỏ như Polpot, Khieu Samphan, Ieng Say..., vốn là những trí thức được đào tạo với những bằng cấp, học vị thật cao ở kinh đô ánh sáng Paris, lại dại dột, mù quáng du nhập vào quê hương Khờ Me (ăn me chua riết đâm ra khờ) của mình từ cuối tháng 3/1975, điên cuồng thẳng tay chém giết đồng bào vô tội với ảo tưởng là thiết lập lại những mô hình xã hội “lý tưởng” đó... Tàn sát dã man đến nỗi bọn đầu xỏ Trung cộng (Đệ tam quốc tế theo định hướng Nông nghiệp của Mao Xếnh Xáng) cũng phải “ghê sợ” lên tiếng ngăn cản, bằng không thì con cháu của Tổng trấn Gia định Lê văn Duyệt sẽ thừa nước đục thả câu, nhào qua xơi tái, đồng hóa lẹ làng, mà khi tỉnh ngộ thì cũng không còn đủ người để dở trò “cáp dzuồn” như hồi 1971 nữa! Chẳng phải là tụi Tầu cộng thương xót gì dân tộc Miên, chúng không muốn tụi Việt cộng lúc đó còn đang nhận mỗi năm gần 2 tỉ đô từ đế quốc Liên Sô (dùng Đệ tam quốc tế như một bình phong để cố gắng bành trướng đất đai, một tham vọng muôn đời của những Sa Hoàng, mà sau thời điểm 30/4/75 tạm thời thay thế vai trò của “Mỹ đã cút” ở Việt Nam), để tích cực đóng vai một chư hầu tung hoành khắp Đông Dương (gồm Việt, Miên, Lào) tiếp tục vây hãm Trung Cộng (luôn ôm ấp tham vọng Bá quyền) không cho phép Trung cộng thọc sâu xuống Mã Lai, Nam Dương, Úc Đại Lợi v.v... để kiểm soát luôn thủy đạo chiến lược của thế giới.



Những tên trùm Cộng Sản quốc tế

Các-Mác vốn có giòng máu Do-Thái trong người, mặc dù đang bị vi trùng giang mai cắn xé thân thể những vẫn cắn răng chịu đựng vắt tim vắt óc để đẻ ra Duy Vật Biện Chứng Pháp dùng nó như một “cái roi” để quất túi bụi vào nhân loại khiến nhân loại phải bận tâm lo chống đỡ mà tạm thời quên đi việc liên tục truy bức, tàn sát dã man dân tộc Do Thái, dân riêng duy nhất của Chúa hơn 2000 năm trời ròng rã chỉ vì mỗi một cái tội cứ ôm cứng “Cựu Ước” mà không chịu chấp nhận một đồng chủng Do Thái có tên là Jesus như Đấng Cứu Thế. Họ làm sao chấp nhận được “Tân Ước” có tới bốn bộ khác nhau do bốn người khác nhau, sống khác thời viết ra với đầy những chi tiết hư thực, trái nghịch, không thiếu những hư cấu mâu thuẫn quá sức tưởng tưởng. Thảo nào, trước kia Giáo hội Công giáo Việt Nam chỉ cho phép con chiên bổn đạo đọc kinh nhật tụng, kinh bổn mà cấm tiệt không được đọc Kinh Thánh, sợ chúng phát hiện được rồi mè nheo đòi rửa tội một lần nữa để trở lại đạo Ông Bà! Đọc lại giáo sử của Giáo hội Thiên Chúa giáo La Mã chúng ta phải tâm phục, khẩu phục, bái phục Constantine, khoảng 300 năm sau Công nguyên! Biết bao nhiêu xương máu của nhân loại đã liên tục đổ ra trên trái đất này, mà sẽ còn đổ ra dài dài, từ quyết định chiến lược của Constantine công nhận Thiên Chúa giáo là quốc giáo, rồi bắt đầu dùng tông giáo này làm bình phong để nhằm cứu vãn đế quốc La Mã thời đó, rồi cứ thế mà “mở mang nước Chúa”! Thử nghĩ lại xem, Thiên Chúa là đấng sáng tạo ra vũ trụ vô biên chứa đựng cả tỉ tỉ giải Thiên Hà, mà hiện nay chuyện sáng tạo vẫn chưa xong vì từng giây từng phút từng sát-na cái vũ trụ đó vẫn đang liên tục nổ lớn, bành trướng chưa biết khi nào mới ngưng, cái vũ trụ vô biên mà cả cái trái đất này chưa xứng đáng là một hạt cát thì Thiên Chúa nào muốn con chiên đi mở mang vài chục ngàn cây số vuông đất đai, biển cả, giống như một tay đầu tư địa ốc. Kính sợ Thiên Chúa mà sao lại vô tâm “hạ giá” Ngài như thế?!? Cả ba anh Do Thái giáo, Công giáo La Mã, Hồi giáo đều chủ trương Độc thần, đều tin rằng có một Thiên Chúa, một đấng Sáng tạo ra vũ trụ, nhưng anh nào cũng cho rằng quan niệm của mình là đúng nhất về đấng Sáng tạo kia, rồi chơi nhau xả láng hơn hai ngàn năm nay mà vẫn chưa yên! Đã thế anh chàng Martin Luther để chống đối lại sự độc đoán, sự nhẫn tâm của Giáo quyền La Mã cương quyết vơ vét cho đúng chỉ tiêu thuế má để giai cấp tăng lữ tròn quay như những con heo say sưa chè chén trong những lâu đài nguy nga trước sự đói rách thê thảm của nông dân Đức bị mất mùa trong mùa đông nghiệt ngã... nên đã cương quyết ly khai giáo triều La Mã, tạo ra giáo phái Protestant, rồi thì cả trăm giáo phái kiểu đó đua nhau ra đời trên trái đất này!

Nhưng sự thật trần trần là sự thật!
Sự thật hiển nhiên bày ra trước mắt,
Thì soi đường lại là đuốc hoài nghi,
Kể cả niềm tin vô bằng vô cứ!

Hiệp Chúng Quốc mà người tị nạn cộng sản Việt Nam đang hưởng phúc lợi là do ai khai phóng đầu tiên? Chính những người Protestant đó, không chịu nổi sự cay nghiệt của Giáo quyền La Mã, đành phải “vượt biển” sang Tân Thế Giới! Tại sao Bible lại dịch ra Việt ngữ là Phúc Âm (những Âm thanh tạo Phúc), mà Protestant lại dịch lắc léo là “Tin Lành” (tin vào sự ăn hiền ở lành) mà sao không thẳng thắn dịch là “Phản Kháng giáo, Chống Đối giáo, Đả Đảo giáo, Biểu Tình giáo”. Tại sao cả thế giới tỏ ra thương tiếc sự ra đi của cố Giáo hoàng John Paul II? Cụ Lý Đông A đã viết trên giấy trắng mực đen trong tác phẩm Huyết Hoa cách đây hơn 60 năm rằng chủ nghĩa Cộng sản đã lỗi thời, mặc dù lúc đó nó chỉ mới hoành hành nhân loại, nhưng ít bữa nữa rồi nó sẽ ngủm. Cố Giám mục Lê Hữu Từ, xếp xòng khu tự trị Phát Diệm, trong các thư luân lưu gửi cho các linh mục thuộc quyền, trong giai đoạn khó khăn vừa đi giây với Pháp vừa chống Hồ tặc đang cố gắng nhuộm đỏ miền Bắc, đã viết rất rõ ràng rằng tới cuối thế kỷ 20 thì không còn ai tin vào chủ nghĩa Cộng sản nữa! Chiến lược be bờ, vây hãm (containment) Liên Sô và các chư hầu cắc ké, do George Kennan, một viên chức trung cấp của bộ ngoại giao trong chính quyền Truman đề ra, dựa vào sự phân tích hết sức chính xác rằng không cần phải bắn một viên đạn nào vào thành trì chủ nghĩa Cộng sản, mà chỉ cần kiên nhẫn chặn đầu vây bọc tứ bề, rồi tự nó sẽ sụp đổ vì những mâu thuẫn nội tại của nó!

Mấy đời trồng đậu được dưa?
Mấy đời Cộng sản mà ưa đạo nào?

Dĩ nhiên cố Giáo hoàng John Paul II được thiên hạ thương tiếc một phần nhỏ cũng là do sự tiếp tay khéo léo của Ngài trong nỗ lực phối hợp nhịp nhàng với Reagan, Thatcher, và Gorbachev trong Liên Minh Thần Thánh (bất cứ cái gì dính líu tới Vatican thì đương nhiên phải móc nghéo Thần, Thánh vào?!?) nhằm giải thể Chủ nghĩa Cộng sản ở Đông Âu mà guồng máy kinh kế của thành trì Liên Sô đã rệu rã quá mức rồi, không thể tiếp tục nuôi dưỡng các chư hầu để tiêu diệt tụi “Tư Bản đang giẫy chết!”... Tao đang cần tiền mà chú em cũng đang muốn thống nhất đất nước một cách êm thấm không có cảnh máu đổ thịt rơi, thì chú em phải biết điều: Tây Đức vui vẻ đưa hai tay dâng biếu 10 tỉ đô cho Liên Sô thì hơn chục ngàn chiếc xe tăng mới chịu hạ nòng đại bác lăn bánh rời khỏi Đông Đức! Chủ nghĩa Cộng sản sụp đổ thì anh chàng ngấm ngầm đau đớn nhất là anh chàng Do Thái, bao nhiêu tim óc bày ra cái bánh vẽ “Thế giới Đại Đồng” cũng chỉ kéo dài chưa tới 100 trăm kể từ cách mạng tháng 10 ở Nga sô, nhưng cũng được yên ủi phần nào vì do nhu cầu dầu hỏa nên vào năm 1947 Hoa Kỳ và Anh quốc đã đẻ ra cái trò “Exodus”, quyết tâm tạo dựng một đầu cầu chiến lược giữa sa mạc nắng cháy, giúp thành lập quốc gia Do Thái sau gần 2000 năm “tha phương cầu tài, thẳng tay lột sạch thiên hạ!” Cách đây hơn 10 năm trong một bài viết trên tờ Times, anh chàng láu cá láu tôm Kissinger, đạo diễn trọn gói vụ xóa sổ chính thể Việt Nam Cộng Hòa, cũng lại là một anh gốc Do Thái, di dân từ Đức đến Mỹ quậy tùm lum leo dần lên nắm chức vụ Ngoại Trưởng Hiệp Chúng quốc Huê Kỳ, đã viết đại ý như sau: Những cuộc chiến xẩy trong mấy chục năm qua trên thế giới này không phải là chiến tranh giữa hai khối Tư Bản và Cộng Sản, cũng không phải là đối đầu quyết liệt giữa Hữu Thần và Vô Thần, mà thực ra là sự giành giựt những loại tài nguyên hiếm qúi rất cần cho những guồng máy kỹ nghệ của khối Tây phương! Kèm theo bài viết là một bản đồ chụp từ vệ tinh in rõ với đủ mầu sắc khác nhau những vùng nào trên trái đất chứa đựng những loại nguyên liệu, nhiên liệu, kim khí qúi nào...

Có nhiều điều mà không thể không làm, bắt buộc phải làm để cứu vãn sự suy sụp của Giáo quyền Công giáo La Mã, vì thời đại đã thay đổi, nhận thức của nhân loại đã sáng hẳn ra nhưng vì nhiều lý do tế nhị mang tính chiến lược đường dài nên một vị Giáo hoàng gốc người Ý không thể nào làm, trái lại một vị Giáo hoàng có quốc tịch khác như cố Giáo hoàng John Paull II gốc Ba Lan chẳng hạn, thì có thể làm một cách tương đối đỡ ngượng ngập: nhiều lần long trọng công khai xin lỗi toàn thể nhân loại vì những núi tội ác mà giáo hội Công giáo La Mã đã gây ra cho nhân loại, tự hạ mình tìm cách hòa giải với những tông giáo khác, công nhận thuyết Tiến Hóa “có lý”, phủ nhận sự hiện hữu của cái thứ “địa ngục” mà con chiên thường “hiểu lầm” và hết sức sợ hãi v.v... Toàn thể thế giới thương tiếc Ngài vì hiểu được cái gánh nặng tinh thần ngàn cân của Thánh giá mà Ngài đã vác đến cong vòng cái lưng, nghẹo cái cần cổ sau 26 năm trụ trì đền thánh Phêrô, đóng vai Phương trượng cai quản Vatican Cổ Tự với muôn ngàn chùa chiền có dựng Thập Tự giá trên nóc, rải rác khắp nơi trên mặt đất này.



Báo-sĩ Dzũ Công đứng trước một "ngôi chùa" của "phân đàn" Venice trực thuộc "Tổng Đàn Vatican Cổ Tự" tọa lạc ở Giáo-đô Roma.



Báo-sĩ Dzũ Công khép nép cạnh một "Hồng Y" tại công trường thánh Phê-Rô trước "Tổng Đàn Vatican Cổ Tự" ở "đất thánh" Roma.

Thì tin đồn vẫn ở dạng tin đồn,
Mây ám bay qua, quầng trăng lại tỏ.
Ai đo được lòng ta sâu vô độ,
Thiên hạ dễ lầm cái thực bên ngoài!
...
Ta gượng sống giữa bao trùm nỗi chết,
Tay khăng khăng cầm giữ nụ hoa hồng!
...
Ta đi cho chết thời oanh liệt
Cho thấu một trời đau đớn riêng!
(Nguyễn Tất Nhiên)

Cái quốc tịch Ba Lan của cố Giáo hoàng John Paull II đã “ngẫu hợp” một cách tài tình với những biến cố vừa mới xảy ra trong lịch sử văn minh cận đại của nhân loại! Giáo hội Công giáo La Mã đã âm thầm thỏa hiệp với Hitler, hoàn toàn nín khe, cố tình ngoảnh mặt làm ngơ để tụi Quốc Xã mần thịt khoảng 6 triệu người Do Thái, những “đứa con riêng” của Thiên Chúa, trong những lò thiêu thiết lập nhiều nhất trên đất Ba Lan, chẳng khác gì những dàn lửa thiêu của những tòa án dị giáo hồi xưa đã nướng mấy chục triệu nhân mạng vô tội nhất định không chịu cải đạo. Sa tăng Hitler (vừa hít vừa le lưỡi) luôn đứng ưỡn ngực hít thẳng vào phổi những luồng khói độc từ những lò thiêu xác vừa le lưỡi liếm cho trơn ướt cái miệng đang phải lớn tiếng hô hào, cổ võ cho chủ thuyết “ưu thắng của giòng giống da trắng”, vừa xoay tít chữ Vạn, đảo ngược vòng luân hồi tự nhiên, thẳng tay “thanh lọc chủng tộc”, thẳng tay “thọc tiết” dân riêng của Thiên Chúa. Hình ảnh nào đẹp hơn, cảm động hơn một vị Giáo hoàng gốc Ba Lan, vừa đại diện mảnh đất nơi đặt những lò ba-bê-kiu, vừa đại diện Thần quyền Công giáo La Mã, lần đầu tiên “hạ mình” đích thân bước chân vào một đền thờ Do Thái giáo...



Cố Giáo Hoàng John Paul II, gốc Ba Lan

Trong tiểu sử của vị tân Giáo Hoàng, một chi tiết được công bố là Ngài đã từng từng phục vụ trong một đơn vị phòng không trừ bị của Đức quốc xã đồn trú tại Munich, nhưng đã đào ngũ và bị quân đội Mỹ bắt làm tù binh! Những đầu óc thật sự hiểu biết trên thế giới, những con chiên sống đạo thật sự, luôn làm theo lời khuyến khích “hãy nâng tâm hồn lên” mà các vị Linh mục đều kéo dài giọng ngân nga trong các buổi lễ, sẽ theo dõi sát nút để xem vị tân Giáo hoàng gốc Đức Benedict 16 Joseph Ratzinger cai trị “nước Chúa ở trái đất” ra sao, sẽ bộc lộ những thái độ ứng xử ngoạn mục nào với những tông giáo khác?

Xin kể một giai thoại tông giáo trên xứ Cờ Huê này: Một ông cha Mỹ mới học bập bẹ tiếng An-Nam Mít, trong khi cử hành thánh lễ đã hãnh diện cất cao giọng “Hãy nâng... tôm hùm lên...!”, khiến cả nhà thờ cười ầm lên, chưa kịp lên tiếng đáp lời: “Chúng con đang hướng về Chúa”, thì chợt một anh con chiên cà chớn, cất giọng Bùi Chu Phát Riệm tuôn ra một câu rất vô ý thức: “Chúng con đang nướng thịt chó!...” Bộp! Bốp! Bộp!... liên tục, anh chàng đang cố gắng cúi đầu xuống thật thấp dơ hai tay quơ quơ để cố đỡ những cái tát phát xuất từ mấy người đàn bà ngồi chung quanh. Đây là chuyện thiệt, tôi không dám bôi bác! Mấy bà Công giáo đừng có nổi nóng mà đi tìm tôi để đập quần vào mặt! Xé tan xác, đè ra tuột quần luôn thì tôi cho phép, sẽ không thưa ra tòa về tội “công xúc cư sĩ”, công khai xúc phạm trinh tiết của cư sĩ Dzũ-Công. Chợt nhớ thêm một chuyện nữa, hồi trước 75, một ông cha xứ nhờ quen biết với mấy sĩ quan tiếp liệu Mỹ, nên xin họ cung cấp những vật liệu như tôn, xi măng, gỗ ván, đủ thứ hầm bà lằng từ tổng kho tiếp liệu Long Bình để xây lại ngôi nhà thờ đã xiêu vẹo. Cứ vài ngày lại thấy mấy chiếc GMC đổ hàng xuống sân nhà thờ, nhưng sáng hôm sau lại thấy biến đâu mất hết, giáo dân âm thầm theo dõi nên phát giác ra chính cha xứ đã âm thầm móc nối bán tống bán tháo cho tụi con buôn hết! Vì thế trong một buổi lễ, khi cha xứ đó dơ cao hai tay miệng đọc: “Chúa ở cùng anh chị em...” thì giáo dân đồng thanh đáp: “Tôn và xi măng ở cùng Cha!”. Đi tu theo Công giáo thì tiên quyết phải giữ đức “khó nghèo”, phải giữ đức “vâng lời”, phải “tận hiến” tức là làm việc 24 trên 24 toàn thời gian cho việc nhà Chúa, không được mắt la mày lém, đôn đáo chạy “mánh mung”, chạy áp-phe để tạo dựng tài sản riêng tư cho mình rồi vênh vang hưởng thụ, bằng không thì con chiên có quyền nguyền rủa mình là loài “quạ đen”, dân Tây phương gọi mấy ông Cha cố loại đó là “black-roped mafia” (mafia khoác áo choàng đen) và có quyền thay mặt Chúa để thẳng tay bợp tai đá đít (Chúa không thể trực tiếp làm được vì Ngài đang bị đóng đinh trên cây Thập Giá) để trừng trị cái tội cố tình “làm tối danh Chúa” thay vì nêu gương đạo đức để “làm sáng danh Chúa”!

Đời chia muôn nhánh khổ
Anh tận gốc gian nan
Cửa chùa tuy rộng mở
Tà đạo khó nương thân
Anh đành xưng qủy sứ
Lãnh đủ ngọn giáo trần!
Qua giáo đường kiếm Chúa
Xin được làm chiên ngoan
Chúa cười rung thánh giá
Bảo: đầu người có sừng!
(Nguyễn Tất Nhiên)

Trong đêm tối ngước nhìn mặt trăng mà con người đã đặt chân lên thám hiểm, chỉ thấy ánh sáng đến từ mặt trời được phản chiếu lại, chỉ thấy đồi núi đất đai, không thấy có sự sống của sinh vật, không có loài người, nên cũng không thấy có tông giáo nào hết. Mặt trăng đang hiện diện và trong tương lai sẽ biến mất trong vũ trụ bao la đen tối theo đạo... tự nhiên. Giả dụ trên trái đất mà chúng ta đang sống không hề có loài người hiện diện, chỉ có đồi núi, biển cả, mưa gió, chim chóc, gà vịt, beo, cọp, cá, tôm v.v... thì cũng không có tông giáo nào hết, mọi sự sinh tồn theo đạo... tự nhiên. Đủ thứ tông giáo xuất hiện trên trái đất là do đầu óc sinh động cực kỳ chủ quan của loài người sáng tác ra, rồi quá đắc ý nên cho nó là Đạo. Dĩ nhiên nó là đạo, nhưng không phải là thứ đạo tự nhiên hằng có từ “vô thủy vô chung”, mà là thứ đạo sáng tác do ngẫu hứng mang tính cách lãng mãn dễ thương của loài người; dĩ nhiên cũng có muôn vàn bi thương thống thiết máu đổ thịt rơi trong quá trình hình thành đạo! Do đó, Đạo “sáng tác” phải dựa vào nhân sinh, vào đời sống con người để hiện hữu, mà cõi đời, kiếp nhân sinh thực ra không cần tông giáo (đạo sáng tác) mặc dù đạo “sáng tác” cũng làm phong phú kiếp sống ngắn ngủi của con người trên trái đất này:

Đời không Đạo, Đời vô liêm sỉ
Đạo không Đời, Đạo biết dạy ai?

Ngẫm nghĩ lại đi, sau hơn 500 năm rao giảng “Tin Mừng” mà số giáo dân Việt Nam mới được khoảng chưa tới 10 triệu, khoảng 8 phần trăm của dân số 80 triệu; còn nếu so với tổng số con chiên trên toàn thể giới khoảng 1 tỉ mốt, thì chưa tới 1%. Dĩ nhiên trong lãnh vực tinh thần, lãnh vực tâm linh thì không nên đem con số con toán ra tính lời lỗ như chuyện... buôn thần bán thánh. Phải nêu ra như thế để nhắc nhở rằng đừng nên có thái độ “bảo hoàng hơn Dzua”. Ông dzua bay tới nước nào còn phải khiêm tốn qùy xuống kính cẩn hôn miếng đất của người ta, hạ mình xuống nước để mong được thông cảm, mong được tha thứ những tội ác chất ngất mà tổ chức mà ông đang là đại diện đã “cố tình” gây ra... thì thần dân cắc ké không nên có thái độ hùng hổ, lúc nào cũng đòi ăn thua đủ với những người khác niềm tin với mình chỉ vì họ sáng suốt hơn nên nhận định sâu sát chứ không hời hợt, thiển cận như mình! Một lời cảnh cáo nghiêm chỉnh: nếu hành xử trái với chủ trương, đường lối hiện hành của tổ chức, thì sẽ bị khai trừ, bị dứt phép thông công, sau khi chết không cách nào mà có thể lên Thiên Đàng, vì đường lên Thiên Đàng bắt buộc phải đi qua Giáo Hội, như một trạm xét giấy căn cước!



Quan sát đám tang cố Giáo Hoàng John Paul II, nói chuyện với nhiều giáo dân Việt Nam, tôi phát hiện ra một điều rất khôi hài nhưng tôi cũng không cười nổi, chỉ ngậm ngùi cay đắng. Chả là, rất nhiều con chiên sốt sắng dự lễ, liên lỉ cầu nguyện cho “Đức Thánh Cha sớm được lên Thiên Đàng, sớm được hưởng nhan thánh Chúa!!!”. Cần gì phải cầu nguyện chuyện đó, vì chuyện Đức Thánh Cha lên Thiên Đàng là chuyện đương nhiên, vì Ngài là đại diện Thiên Chúa ở trần gian, tay Ngài cầm chiếc chìa khóa mở cánh cửa Thiên Đường, thì Ngài tùy tiện muốn vào muốn ra lúc nào mà chả được! Rõ... khổ! Thấy thương vô cùng! Mà cũng thấy giận vô cùng!

Trăm năm trong cõi người ta
Điều hay điều dở chẳng qua tạm thời
Rằng ai nhận biết Ơn trời
Là người sống lại trong Lời thiên thu.
(Huệ Nhật)

Lời thiên thu trong những câu thơ trên phải chăng là “Ngôi Lời”, là “Lời Hằng Sống” trong kinh thánh. Người dịch Kinh thánh ra Việt ngữ hay nhất là nhà nho Phan Khôi, tiếc rằng cụ đã rời bỏ cõi Ta Bà từ lâu, nếu không tôi sẽ tìm đủ mọi cách qùy lạy khóc lóc yêu cầu cụ đứng ra giảng giải cho con chiên Việt Nam để họ thấu hiểu thực nghĩa của hai chữ “Ngôi Lời”. Cố đạo Bá Đa Lộc ơi! Chúng tôi cũng biết ơn ông chế ra chữ quốc ngữ để chúng dễ xài thay vì tiếp tục nắn nót chữ Nho, chữ Nôm, nhưng nguồn gốc tiếng Việt của chúng tôi phát xuất từ bộ lạc Môn bên Miến Điện, bò dần qua những đỉnh cao dọc dãy Trường Sơn, rồi tỏa rộng xuống phối hợp với những thủy thổ khác biệt mà thành những thổ âm khác nhau, và sự phối hợp của những thổ âm này với chữ quốc ngữ do ông chế tác ra đã gây ra không ít đau khổ cho dân tộc tôi, nhất là trong lãnh vực dịch thuật cho nỗ lực truyền giáo đã góp phần nâng cao tính cuồng tín trong đầu óc khá nhiều tín đồ... Chủ nghĩa cộng sản, triết học Duy vật chỉ tin vào một thế giới này mà thôi nên họ không dám liều lĩnh cho nổ tung trái đất vì họ sẽ mất tất cả nếu thế giới này tan vào không gian đen tối vô tận, còn những kẻ cuồng tín của những Tông giáo Bảo thủ Cực đoan thì sẵn sàng hy sinh cái thế giới tạm bợ này mà họ cho là “không thật” để được vào thế giới thiên đàng, mà họ tin chắc rằng họ sẽ được hưởng nếu họ dám tử vì đạo... Cứ nhìn vào những vụ đánh bom cảm tử đang diễn ra hàng ngày hàng giờ ở vùng Trung Đông suốt mấy năm nay thì mới thấy ghê sợ những đầu óc cuồng tín về tông giáo! Vấn đề này cực kỳ tế nhị (tế là tinh tế, vi tế, cực nhỏ; nhị là hai chiều), muốn hiểu rõ để thông cảm thì phải nhìn từ nhiều phía, từ càng nhiều góc cạnh càng tốt, tối thiểu cũng phải chịu khó phân tích vấn đề từ hai chiều, từ hai phía, hai vị thế đứng. Xét cho cùng họ cũng có cái lý của họ!

Chân lý có chi mà lấn?
Hễ ai chấn, nó sẽ ly
Ai có chí, nó sẽ lân
Có chân, chưa chắc có lý!

Pascal đã nói: “Ngày nay chân lý (Higher Truth) bị lu mờ và giả dối được quá nêu cao, không có lòng yêu chân lý thì người ta không thể nhận biết đâu là chân lý”. Nhưng vì nghiệp chướng còn dầy nên chúng sinh chỉ thích nghe, thích thấy những gì hợp với điều mong ước của mình chứ không muốn nhìn thẳng vào sự thật.

Tâm phải rộng để dung nạp những người trong thiên hạ
Tâm phải rộng để chịu những cái hay trong thiên hạ
Tâm phải công bằng để làm việc trong thiên hạ
Tâm phải trầm tĩnh để xét lý trong thiên hạ
Tâm phải vững vàng để chống lại những biến cố trong thiên hạ.
(Lã Khôn)

“Những người như Nguyễn Du, Tản Đà, Trang Tử, Nietzsche, Einstein, Faulker, Heidgger, vốn không phải là những kẻ kiêu căng vô lối nhưng họ bị bó buộc phải to tiếng chém cha cái số, nghĩ đời mà ngán. Trông ra núi lớn sông dài, ngó quanh lại chỉ một mình là ta, ấy bởi vì nếu không làm như vậy thì sớm chầy mọi người sẽ chết bởi bàn tay kẻ hương nguyện, kẻ duy lý máy móc, kẻ lập lờ lập lững để dễ bề vu cáo, kẻ tẩm nhuận chi trấm, những kẻ tên là Iago đã đẩy những Desdemona, Othello vào chỗ chết. Thà giận thì la mắng thẳng người ta, người ta còn có thể đáp được một lời.

Mọi cảnh huống bi thảm hiện thời hầu như triệt để không cho phép chúng ta bàn tới Heidegger đúng như sầu xanh đất đỏ đòi hỏi. Ta đành bó tay lắc đầu dang dở. Vùng nắm một vài nguyên tắc cổ sơ trong truyền thống triết học Đông Phương và dấn thân vào cuộc. Sử dụng chi ngôn, ngụ ngôn, trùng ngôn, phản ngữ hầu mong đạt tới cõi vô ngôn trong lời mà khép mở riêng chung năm canh sáu khắc tối mận sớm đào.

Tất cả vấn đề là: làm thế nào để cho xoang điệu hào hoa đừng bị đánh chìm bởi luận lý cò ke đo đếm, bớt một thêm hai. Từ bao nhiêu thế kỷ tư tưởng của tinh anh đã hao mòn trong vòng vây của luận lý. Người ta đo tư tưởng theo những tiêu chuẩn lệch lạc. Buộc cá phải bò trên bãi cát? Buộc chim phải lội dưới dòng sông? Rồi bảo rằng cá chim sao mà bê bối vậy? Cá chim thiếu khả năng bò leo bơi lội?...”
(Tư Tưởng Hiện Đại - Bùi Giáng, Sàigòn - 1960)

(đón xem tiếp kỳ 04)


Được sửa chữa bởi vu cong ly ngày Hai 4 07, 2008 11:32 pm; sửa lần 4.
Về Đầu Trang
Xem lý lịch thành viên Gởi tin nhắn
kieumyruyen



Ngày tham gia: 20 12 2007
Bài gởi: 18

Bài gởiGởi bởi: CN 3 23, 2008 10:25 pm    Tiêu đề:

những bài vở anh đưa lên đây rất hay. Tất cả đề tài đều hấp dẫn làm người đọc không cảm thấy nhàm chán và nhất là kiến thức và sự hiểu biết của anh qúa rộng trên tất cả mọi lảnh vực. Anh là ai? sao mà anh biết nhiều thế?
Tôi chờ anh gừi tiếp bài Thích độc Hạnh. Cám ơn
Về Đầu Trang
Xem lý lịch thành viên Gởi tin nhắn
Trình bày bài viết theo thời gian:   
Gởi bài mới   Trả lời chủ đề nầy    Diễn Đàn MẪU TÂM -> TIN TỨC VĂN NGHỆ - THỜI SỰ HẢI NGOẠI Thời gian được tính theo giờ Việt Nam PST (U.S./Canada)
Chuyển đến trang Trang trước  1, 2, 3 ... 53, 54, 55 ... 98, 99, 100  Trang kế
Trang 54 trong tổng số 100 trang

 
Chuyển đến 
Bạn không có quyền gởi bài viết
Bạn không có quyền trả lời bài viết
Bạn không có quyền sửa chữa bài viết của bạn
Bạn không có quyền xóa bài viết của bạn
Bạn không có quyền tham gia bầu chọn
|   Register   |   Tin nhắn riêng   |   Đăng Nhập

Powered by -php_BB- Copyright © mautam.net, 2005. All Rights Reserved