Nhìn lại cuộc đời lời giảng của Chúa Jesus !

 
Gởi bài mới   Trả lời chủ đề nầy    Diễn Đàn MẪU TÂM -> GIÁNG SINH 2009-2010
Xem chủ đề trước :: Xem chủ đề kế  
Tác giả Thông điệp
EmGaiMienQue



Ngày tham gia: 26 10 2004
Bài gởi: 591
Đến từ: San Jose, CA

Bài gởiGởi bởi: Năm 12 15, 2005 11:38 pm    Tiêu đề: Nhìn lại cuộc đời lời giảng của Chúa Jesus !

Nhân mùa Giáng Sinh về: Nhìn lại cuộc đời và lời giảng của Chúa Jesus

Việt Nguyên (Từ Bàn Viết Houston)

LTS - Từ Bàn Viết Houston là cột mục bàn về các vấn đề thời sự từ chính trị tới kinh tế, văn hóa... do nhà báo Việt Nguyên cũng là một bác sĩ, trong ban biên tập Ngày Nay phụ trách.
*Theo được lời Chúa Jesus không phải là dễ
Trong đời, có một lần tôi hoàn tòan tin vào phép lạ, lần sống sót sau 42 ngày vượt biển. Đến trại tị nạn Mã Lai đúng ba tuần trước Giáng Sinh để đón một đêm “Vinh Danh Thiên Chúa Trên Trời” với đầy đủ lễ lạc, thánh ca và hình ảnh một đêm thánh vô cùng với thiên thần Gabriel, máng cỏ trong hang đá Bethlehem, những người chăn cừu về đêm, ba vua đến từ phương Đông và ngôi sao sáng trên cây giáng sinh. Một đêm giáng sinh đáng nhớ trong đời.
Đời Chúa qua Phúc âm
Trên hai ngàn năm, nhân loại đón mừng ngày Chúa Jesus ra đời mỗi năm, nhưng câu chuỵên về cuộc đời siêu phàm của Chúa không bắt đầu từ ngày sanh ra đời mà bắt đầu bằng cuộc khổ hình, thương khó và phục sinh sau khi Chúa Jesus bị quan toàn quyền La Mã Pilate xử tử bằng cách đóng đinh trên thập giá năm 30 Tây lịch trên ngọn đồi Golgotha.
Trên hai ngàn năm, cuộc đời Chúa Jesus vẫn còn là một đề tài tranh luận, nhất là trong khoảng 17 năm vắng mặt từ ngày người trẻ tuổi Jesus 13 tuổi được dạy đạo và lang thang ở các đền thờ Do Thái cho đến năm 29 tuổi được John the Baptist rửa tội bên bờ sông Jordan.
Cuộc đời của Chúa được ghi lại trong bốn Phúc âm Mark, Matthew, John và Luke được Giáo hội công nhận. Chúa đã không viết gì ngoại trừ những lần viết trên cát và cũng không dặn dò các tông đồ viết lại cuộc đời của mình.
Phúc âm Mark bắt đầu từ khi Chúa được John the Baptist rửa tội, Jesus bắt đầu như vị Chúa Cứu Thế, khác với hai phúc âm Matthew và John diễn tả Chúa Jesus như nhà cách mạng tôn giáo thành công từ một giáo phái của Do Thái giáo. Trong Phúc âm Mark, đạo của Chúa chỉ được sáng khi Chúa lên thánh giá. Những người đáng lẽ phải hiểu rõ Chúa hơn hết như gia đình và các tông đồ đều không nhận ra Jesus là Chúa cứu thế. Phúc âm Mark ảm đạm nhất trong bốn Phúc âm với lời than tuyệt vọng của Chúa khi bị đóng đinh cô đơn trên thập giá: “My God, my God, why have you forsaken me”, tuyệt vọng vì lý tưởng không được thực hiện như Khổng Tử khi lâm nạn đã than với các môn sinh “Trời sao nỡ bỏ ta!”
Phúc âm Matthew phân biệt Thiên Chúa giáo với Do Thái giáo, thuyết phục những người theo đạo của Chúa tin Chúa là vua cuối cùng của Do Thái, một nhà tiên tri Moses mới, một vị Chúa cứu thế. Chúa đóng vai trò người thầy, dạy tình thương với “lời giảng trên núi”, ít phép lạ và thần năng. Tông đồ tuy vẫn hiểu lầm Chúa nhưng bắt đầu có một niềm tin dù họ vắng mặt khi Chúa bị đóng đinh trên thập giá và chỉ có một số nữ tín đồ trong đó có bà Mary Magdalene và bà mẹ Mary của Chúa đứng nhìn từ xa.
Phúc âm Luke, viết bằng ngôn ngữ văn chương Hi Lạp cho những người không phải dân Do Thái (ông Raymond Bown học giả Thiên Chúa giáo cho rằng danh từ Đức Mẹ Đồng Trinh xuất phát do sự dịch sai lạc từ ngôn ngữ Hebrew gái trẻ (young girl) qua tiếng Hi Lạp thành đồng trinh (virgin). Phúc âm Luke nhấn mạnh đến lối sống tín đồ Thiên Chúa phải theo cho đúng đạo của Chúa. Phúc âm đầy tình thương và tha thứ. Ở đây, tín đồ yêu Chúa và Chúa yêu mọi người, bị đóng đinh trên thập giá Chúa vẫn kêu gọi tha thứ “Cha hãy tha thứ cho chúng vì chúng không biết chúng đang làm gì” trong khi vài tông đồ có mặt vẫn đứng nhìn từ xa.

Đến Phúc âm John, các tông đồ biết Chúa là con Chúa Trời Chúa giảng dậy với quyền năng của Thượng đế. Lính La Mã phải quì gối cảm thấy có tội khi dẫn Chúa đi thọ hình và các tông đồ cùng Mẹ Mary và bà Mary Maqdalene đứng gần cây thập giá.
Phúc âm Thomas
Những con người ở đầu thế kỷ 21 lại giống như con người trong thời đại Victoria, thời đại vừa tin tưởng vừa nghi ngờ, đôi khi muốn tin Chúa Jesus của phái Phúc Âm đôi khi lại muốn tin một Chúa Jesus gần với người thế tục.
Một chúa Jesus gần với người trần đã tìm thấy trong Phúc Âm Thomas vào thế kỷ thứ ba. Các nhà học giả kinh Tân ước đã biết có Phúc âm Thomas vì Hippolytus đã phản đối: “Những lời bắt bẻ của kẻ dị đạo”. Hầu hết ấn bản Phúc âm Thomas đã bị phá hủy từ thế kỷ thứ 3. Gần cuối thế kỷ 19, hai nhà khảo cổ người Anh Bernard Grenfell và Arthur Hunt đã tìm thấy ba lá giấy tại địa danh Oryrhynchus bên bờ sông Nile, ghi lại những lời Chúa Jesus giảng. Năm 1945, một nông dân Ai Cập tên Mohammad Ali Al-Samman đào được một hũ niêm kín dưới chân núi làng Naq Hammadi, tưởng là hũ vàng nhưng ông lại thấy 12 cuốn kinh đóng bằng bìa da, viết bằng ngôn ngữ Coptic tương tự như tiếng Hy Lạp. Năm 1952, một học giả người Pháp tên Henri Charles Puech lại tìm ra được những cổ thư tương tự như ở Oryrhynchus, ông kết luận toàn bộ Phúc âm Thomas đã được tìm thấy. Cổ thư bị giám mục thành Alexandria ra lệnh tiêu hủy nhưng các tu sĩ Ai Cập tu viện St Pachomius gần làng Naq Hammadi bất tuân lệnh, giấu phúc âm trong các hũ chôn dưới đất, kinh được tàng trữ ở thư viện Naq Hammadi, dịch ra Anh ngữ bởi các học giả Hoa Kỳ đứng đầu là ông James M. Robinson.
Các học giả kinh Tân ước vẫn chưa rõ về tác giả Thomas. Có giả thuyết cho Thomas là tông đồ trong Phúc âm John, nghi ngờ Chúa sống dậy cho đến khi nhìn thấy vết sẹo trên tay Chúa. Thomas nhận mình là anh em song sinh của Chúa. Có giả thuyết cho Thomas chính là Judas Thomas, trong Phúc âm Mark và Matthew đề cập Thomas là em của Chúa (kinh thánh Tin Lành cho biết Chúa có bốn em trai James, Joseph, Simon và Judas và có thể có hai người em gái.)
Trong Phúc âm Thomas, Chúa Jesus không làm phép lạ, không kể chuyện cuộc đời của Chúa, không tự nhận là con của Chúa Trời, không nhận là sẽ chết để chuộc tội cho nhân loại. Chúa Jesus trong Phúc âm Thomas dạy tín đồ: “Nước chúa ở nơi chúng ta không bao giờ chịu tìm kiếm, ngay trước mặt chúng ta”. Phúc âm Thomas gồm 114 lời giảng cho tông đồ và cho các đám đông giống như Khổng Tử trong sách Luận Ngữ hay sách Cách ngôn (Proverb) sách Thánh (Ecole siast) sách kiến thức (Wisdom of Solomon) của Do Thái giáo.
Chúa Jesus trong Phúc âm Thomas hiện ra như một triết gia phương Đông, như Khổng Tử, như Phật Thích Ca, như Lão Tử, những người đi đứng,ăn ngủ với đệ tử, giảng dậy, kể những câu chuyện mà mọi người không thể hiểu hết, những câu chuyện đi ngược lại những quyền lợi thông thường của người đời, những bậc chân nhân không nhà không cửa, đi khắp phương giảng đạo rồi trở về chết tại nơi sinh trưởng. Một Chúa Jesus của những năm vắng bóng từ 13 đến 29 tuổi, được đồn là đã đến miền Nam Ấn Độ, từ thành Jerusalem đến thành Banares, học và dậy Phật học, được dân thương mến và gọi là thánh Issa như trong sách The Unknown life of Christ năm 1894 của học giả người Nga Nicholas Notovitch. Thời gian khúc mắc các học giả Thiên Chúa giáo vẫn chưa tìm được câu trả lời chính xác.
Phúc âm Thomas bị giáo hội bác bỏ nhưng rất phổ thông trong giới trí thức Thiên Chúa giáo. Một Chúa Jesus khuyên con người như “một người khách qua đường” trong cuộc đời như Lão Tử trong Đạo Đức Kinh. Một Chúa Jesus khuyên con ngươì không nên “dính mắc” (attachment) với cuộc đời giống như ông Phật, ông Lão, “kẻ nào có tai” hãy rũ sạch tất cả vướng víu những dính mắc của thế gian để cuối cùng sẽ nhìn thấy những giá trị thật (see something real). Một Jesus trong Phúc âm Thomas trả lời Tông đồ “nước Cha trải dài trên mặt đất, con người không thấy”, “Nước Chúa ở trong lòng” một Tâm tức Phật, Phật tức Tâm.

Chúa Jesus trong Phúc âm Thomas khắt khe với người giầu: “một người không thờ hai chủ”, “người nghèo là người đầu tiên vào nước Chúa.” Chúa khuyên không cho mượn tiền lấy lời “những người mua bán và thương gia sẽ không vào chỗ của ta.” Ngài không quan tâm đến những lễ nghi rỗng tuếch như nhịn ăn và cầu nguyện và chỉ đề cập đúng một lần đến “tội lỗi” của người trần tục. Chúa Jesus trong Phúc âm Thomas quan niệm đời sống và cái chết như Phật Thích Ca “Không sinh không tử”. “Sự bắt đầu khởi từ sự tận cùng”. Cuộc đời là cõi tạm, mọi người ở trần gian là “khách qua đường”, Chúa Jesus trong Phúc âm Thomas thuyết phục những người nghe giảng bỏ gia đình và đi theo Ngài, tượng tự như trong thánh kinh khác, Chúa trả lời những người trẻ tuổi giầu có Do Thái khi tự hỏi phải làm gì để theo Chúa: “bán gia tài, phân phát của cải cho người nghèo và theo ta” Chúa Jesus xem “vạn vật đồng nhất” như Lão tử từ chối phân biệt thế giới trắng đen, Thiện ác, Thiên đàng, Địa ngục, Tâm và Thân, Đàn ông và Phụ nữ. Giống như Thiền Phật giáo, con người sẽ không nhìn thấy sự thật nếu để tâm phân biệt “nước Chúa vừa ở bên trong vừa ở bên ngoài”, bản thể con người là một. Cái ngã là “hình mỗi người đều thấy nhưng ánh sáng bên trong che dấu hình ảnh của cha”.
Chúa Jesus trong Phúc âm giống hệt chúa Jesus của Thomas Jefferson khi ông tổng thống thứ ba của Hoa Kỳ thức ba đêm cắt bỏ những phần phép lạ và ngay cả phần Chúa sống lại trong kinh thánh King James Bible để làm thành cuốn sách “cuộc đời và triết lý của Jesus thành Narazeth”. Thiếu phép lạ, Chúa Jesus của Jefferson trở nên một con người bình thường với những lời giảng siêu đẳng. Đối với TT Jefferson, lời dậy của Chúa quan trọng hơn cuộc đời của Chúa cứu rỗi trong Phúc âm John người chết đi chuộc tội cho nhân loại và hứa hẹn một đời sống vĩnh hằng.
Chúa Jesus trong sách của TT Thomas Jefferson đòi hỏi con người phải trở nên toàn thiện từ trong ra ngoài, sống với lẽ phải, công lý đến từ đạo đức và đạo đức từ trong tâm mà ra.
Chúa Jesus dạy “hãy làm cho người khác những gì mình muốn người khác làm cho mình”, vang vọng lời Khổng tử “Kỷ sở bất dục vật ư thi nhân” 500 năm trước đó.
Xã hội của Chúa Jesus là một xã hội kinh tế dựa trên tình thương, hợp tác và chừng mực không phí phạm. Xã hội luôn luôn tìm kiếm một giải pháp hòa bình, lấy tình thương đáp lại bạo lực, không phán đoán và không có định kiến với người khác, rộng lượng và không mong được trả ơn. Chúa Jesus trong cả hai Phúc âm Thomas và sách của Thomas Jefferson vẽ con đường sống chứng mực “Be modest”, con đừng Trung dung của ông Khổng và Trung Đạo của Thích Ca.
Trên hết, chúa Jesus dạy phải sống thật lòng, tự trong tâm và không được giả dối. Ngài kết án những kẻ muốn ném đá giết người đàn bà ngoại tình nhưng trong đầu luôn luôn có ý tưởng lừa dối vợ nhà, những ông quan thu tiền thuế đầy túi cho đền thờ nhưng không làm gì để giúp đỡ một người mẹ góa với con côi: “Hãy ngưng nói công bằng mà phải thực hành”. Dĩ nhiên nói dễ khó làm. Ông Tổng thống Jefferson giữ cuốn sách luân lý của Chúa trong phòng làm việc, chống đối nô lệ nhưng lại có con với một bà nô lệ da đen!
Tổng thống Thomas Jefferson đã quá tay cắt mất phần Phục sinh của Chúa Jesus ra khỏi thánh kinh, lấy mất đi cái mầu nhiệm của tôn giáo. Tôn giáo như định nghĩa của nhà nhân chủng học Edward Tylor thế kỷ 19 “Tôn giáo là sự tin tưởng vào giá trị tinh thần và siêu nhiên”. Tôn giáo mất đi sự mầu nhiệm như đêm Giáng sinh thiếu đi “Một vì sao sáng” và những bài thánh ca, như một năm nào tuyết bỗng nhiên đổ về trắng xóa cả một trời Houston trong “đêm thánh vô cùng”.

Về Đầu Trang
Xem lý lịch thành viên Gởi tin nhắn
Trình bày bài viết theo thời gian:   
Gởi bài mới   Trả lời chủ đề nầy    Diễn Đàn MẪU TÂM -> GIÁNG SINH 2009-2010 Thời gian được tính theo giờ Việt Nam PST (U.S./Canada)
Trang 1 trong tổng số 1 trang

 
Chuyển đến 
Bạn không có quyền gởi bài viết
Bạn không có quyền trả lời bài viết
Bạn không có quyền sửa chữa bài viết của bạn
Bạn không có quyền xóa bài viết của bạn
Bạn không có quyền tham gia bầu chọn
|   Register   |   Tin nhắn riêng   |   Đăng Nhập

Powered by -php_BB- Copyright © mautam.net, 2005. All Rights Reserved