ĐIÊN ẢNH Việt: Câu chuyện xuất khẩu

 
Gởi bài mới   Trả lời chủ đề nầy    Diễn Đàn MẪU TÂM -> TIN TỨC VĂN NGHỆ - THỜI SỰ HẢI NGOẠI
Xem chủ đề trước :: Xem chủ đề kế  
Tác giả Thông điệp
music123
Moderator


Ngày tham gia: 18 12 2006
Bài gởi: 60955

Bài gởiGởi bởi: Ba 12 21, 2010 11:23 am    Tiêu đề: ĐIÊN ẢNH Việt: Câu chuyện xuất khẩu

Điện ảnh Việt: Câu chuyện xuất khẩu (Bài 1)

Thứ Hai, 20/12/2010 07:20

Điện ảnh Việt: Câu chuyện xuất khẩu

So với 6 “người anh” nghệ thuật ra đời trước, thì đặc thù duy nhất tạo nên sự khác biệt của Nghệ thuật thứ bảy là khả năng xuất khẩu và nhập khẩu. Khả năng này xuất phát từ sự dễ dàng trong việc chia sẻ kỹ thuật làm phim và sự dễ dàng trong việc sao chép thành phẩm điện ảnh để công chiếu. Chính sự dễ dàng này đã làm nên sự phổ cập, tính quốc tế và triết lý riêng biệt của điện ảnh.



Nhìn lại lịch sử, dù còn non yếu và có những đứt quãng, nhưng điện ảnh Việt không quá non trẻ, vì kỹ thuật chiếu bóng xuất hiện tại Việt Nam chỉ vài năm sau thế giới.

Nếu lấy cột mốc 1897, khi Hãng phim Pathé của Pháp quay những thước phim tư liệu đầu tiên tại Việt Nam thì với lịch sử 113 năm, điện ảnh Việt Nam đã bắt đầu bằng phim nhập khẩu. Và tới nay, sau hơn một thế kỷ sinh ra và lớn lên, điện ảnh Việt đang nỗ lực tìm đường xuất khẩu. Song câu chuyện xuất khẩu của điện ảnh Việt trên thực tế đã bắt đầu từ rất lâu trong quá khứ.


Điện ảnh Việt - câu chuyện xuất khẩu trong chuyên đề số này sẽ nhìn lại những dấu mốc quan trọng của “lịch sử xuất khẩu phim Việt” cùng một bàn tròn nho nhỏ với những góc nhìn khác nhau của ba nhà xuất khẩu phim Việt hiện nay.


- Nếu lấy cột mốc 1897, khi Hãng phim Pathé của Pháp quay những thước phim tư liệu đầu tiên tại Việt Nam thì với lịch sử 113 năm, điện ảnh Việt Nam bắt đầu bằng phim nhập khẩu.


Dấu vết nhập khẩu

Theo sử liệu, đoạn phim đầu tiên có tên Roundhay Garden Scene của nhà phát minh người Pháp Louis Le Prince được quay với tốc độ 12 khung hình đã trình chiếu ở Leeds, Anh quốc vào năm 1888.

28/12/1895 anh em Auguste và Louis Lumière tổ chức buổi chiếu phim có bán vé đầu tiên, với bộ phim La Sortie de l’Usine Lumière à Lyon (Buổi tan ca của nhà máy Lumière ở Lyon) có độ dài 46 giây, phim câm, quay 16 hình/giây, kích cỡ 35mm, tỉ lệ khung hình 4:3.

Những năm cuối thế kỷ 19, trong chuyến du hành giới thiệu tại Đông Nam Á, phim này cũng được chiếu tại một buổi sinh hoạt trí thức ở Hà Nội. Trong tiếng Pháp, lumière cũng có nghĩa là ánh sáng, cho nên cũng có cách chơi chữ gọi Auguste và Louis là “anh em nhà ánh sáng”. Mà ánh sáng thì phải “soi sáng”.

Từ năm 1897, hãng phim Pathé của Pháp đã quay những cuốn phim tư liệu, phim sinh hoạt tại Việt Nam. Năm 1898, chiếu bóng khá quen thuộc với các đô thị tại Việt Nam, các quảng cáo về việc chiếu phim đã xuất hiện trên các báo, dán ở các chợ, bến xe… Đây có thể xem là những dấu vết đầu tiên của việc nhập khẩu điện ảnh vào Việt Nam.

Theo báo L’Avenir du Tonkin số ra ngày 29/4/1899 thì ngày 28/4/1899 Gabriel Veyre có buổi chiếu phim miễn phí tại Hà Nội, thu hút nhiều người xem. Với cột mốc tháng 4/1897, điện ảnh du nhập vào Việt Nam trước cả những nền điện ảnh lẫy lừng hoặc đang lên như Nhật Bản (ra đời ngày 20/6/1899), Hàn Quốc (1903), Iran (khoảng 1900), Indonesia (1926), Thái Lan (9/1897), Mông Cổ (giữa những năm 1903 và 1913)…

Trong khoảng 1910-1920, người Pháp đã quay khoảng 40 phim tài liệu và tổ chức nhiều buổi chiếu ở nông thôn, biên giới tại Việt Nam. Điều này một mặt giúp họ tuyên truyền các chính sách, một mặt, kích hoạt sự ham thích và phát triển điện ảnh nội địa.



Với sự kiện chiếu phim La Sortie de l’Usine Lumière à Lyon tại Hà Nội đầu thế kỷ 20, Việt Nam không chỉ chứng kiến sự khai sinh của bộ môn nghệ thuật thứ bảy từ rất sớm, mà còn phải gánh vác chung trách nhiệm về việc khai sinh và xiển dương ngành công nghiệp điện ảnh

Điện ảnh được du nhập vào Việt Nam năm 1899 với buổi chiếu phim đầu tiên của Gabriel Veyre ngày 28/4. Tiếp đó, có những buổi chiếu phim trong các khách sạn, nhà hàng lớn nhân những ngày lễ quan trọng hoặc sự kiện chính trị nào đó cho những quan chức, viên chức, chủ công ty công nghiệp và doanh nghiệp, đơn vị quân đội Pháp chiếm đóng thuộc địa.

Ngày nay, nếu có dịp đi qua đền Bà Kiệu ở Hà Nội, thì kế bên, gần đối diện với đền Ngọc Sơn, nơi đặt tượng đài Cảm tử, chỗ ấy ngày xưa là rạp chiếu bóng Pathé. Rạp này do Aste (người Pháp) bỏ tiền xây dựng, khánh thành ngày 10/8/1920 - đây là rạp chiếu phim lâu đời nhất Việt Nam và Đông Dương. Cũng chính Arte xây dựng rạp Tonkinois ở phố Hàng Quạt, khánh thành 12/6/1921.

Đến năm 1930, Việt Nam có khoảng 35 rạp chiếu bóng ở Hà Nội, Hải Phòng, Huế, Chợ Lớn, Sài Gòn, Cần Thơ…; riêng Sài Gòn - Chợ Lớn có 10 rạp. Đến năm 1939, số lượng rạp chiếu phim tại Việt Nam là 60. Giai đoạn 1955-1960, tại miền Nam (chủ yếu Sài Gòn, Chợ Lớn) có đến 120 rạp chiếu bóng. Giai đoạn sau 1975, Việt Nam có 350 rạp chiếu phim, 1.400 đội chiếu bóng lưu động. Đến nay (2010), dù điện ảnh đang rất hồi sinh, cả nước mới khôi phục được khoảng 150 rạp chiếu đủ chất lượng.

Cuối năm 1937, ông Nguyễn Văn Đinh (chủ Hãng Đĩa hát Asia) lập Hãng phim Á châu (Asia Film) tại Sài Gòn, rồi nhập khẩu thiết bị từ Pháp về sản xuất phim nói cỡ 35 mm đầu tiên tại Việt Nam. Đầu năm 1938, hãng này khởi quay bộ phim đen trắng 35 mm Trọn với tình (ĐD: Nguyễn Văn Danh, tức nghệ sĩ cải lương Tám Danh).

Năm 1953, Công ty Kim Chung điện ảnh mời đạo diễn người Hong Kong về Hà Nội sản xuất phim Kiếp hoa (KB của bầu Long, chủ gánh hát cải lương Kim Chung). Phim này thành công, không chỉ ở Hà Nội, Sài Gòn, mà còn các tỉnh miền Tây. Được gợi hứng, ông Hà Quang Định (chủ gánh hát cải lương Ái Liên) cùng vợ là Ái Liên cũng mời đạo diễn Hong Kong về thực hiện hai phim Nghệ thuật và hạnh phúc, Phạm Công - Cúc Hoa.

Năm 1955 tại miền Nam, Phòng Điện ảnh được thành lập, năm 1959 Trung tâm Quốc gia điện ảnh ra đời, những nhà làm phim nội địa được các chuyên gia “nhập khẩu” từ Mỹ, Philippines đào tạo.

Cuối năm 1956, đạo diễn Joseph L.Mankiewicz tới Sài Gòn thực hiện phim Người Mỹ trầm lặng (The Quiet American, hoàn tất năm 1958) và đạo diễn Vĩnh Noãn của phim Chúng tôi muốn sống được mời hợp tác, một dấu vết của liên doanh giữa nhập khẩu và xuất khẩu.

Năm 1957, các hãng phim tư nhân của điện ảnh miền Nam đã sản xuất hơn 37 phim - con số kỷ lục của lịch sử điện ảnh Việt Nam - tất cả nhờ liên doanh. Đây cũng là năm xuất hiện phim màu (eastman a color) đầu tiên của Việt Nam, phim Lục Vân Tiên, do Tống Ngọc Hạp và Thu Trang (Hoa hậu Hội chợ Thị Nghè) sản xuất và đóng vai chính, được báo chí nội địa cũng như quốc tế nhắc đến khá nhiều. Đây cũng là năm xuất hiện của hai tài tử lớn là Thẩm Thúy Hằng và Kiều Chinh, những người mà sau này, bằng tài năng và sự nổi tiếng của mình, đã được biết đến tại thị trường phim quốc tế.

Năm 1960 tại miền Nam, các phim nhập khẩu thao túng thị trường, với trong 120 rạp, số phim nhập khẩu vào Sài Gòn từ năm 1954 đến 1960 khoảng 1.850 bộ, trong đó phim Mỹ chiếm hơn 85%. Năm 1962, phim Mỹ thấp xuống còn 15,4%, nhường ngôi vị nhập khẩu cho phim kiếm hiệp của Hong Kong và tâm lý xã hội của Đài Loan, chiếm khoảng 41%.

Những năm sau này thì xin không nhắc lại, vì thông tin đã khá phổ cập đến những ai có quan tâm đến điện ảnh. Với lịch sử khoảng 110 năm, điện ảnh Việt đã liên tục chịu ảnh hưởng từ việc nhập khẩu kỹ thuật, nhân lực, vật lực từ Pháp, Nhật, Liên Xô, Mỹ, Trung Quốc… và sau này, là điện ảnh quốc tế, thời toàn cầu. Có thể nói, không có nhập khẩu không có lịch sử điện ảnh Việt Nam.

So với tuổi đời của nghệ thuật cải lương, phở hay áo dài, điện ảnh Việt có thể nói là “người cùng thời”, xuất hiện sớm tương đương, nhưng do “tính chất em út” của nền nghệ thuật thứ bảy sự hòa đồng quốc tế, dễ nhập khẩu và xuất khẩu nên phim gần với bản sắc văn hóa quốc tế hơn và văn hóa nội địa.

Xuất khẩu, những cột mốc

Nếu tính từ bộ phim Kim Vân Kiều (1923), người Pháp và người Việt cùng thực hiện, thì nhờ nhập khẩu mà điện ảnh nội địa Việt Nam hình thành từ đó. Ngay sau đó, bộ phim này cũng được xuất khẩu sang Pháp, cũng như vài nước thuộc địa khác, để chiếu giới thiệu. Từ năm 1925 đã có vài hãng phim Việt Nam xuất hiện, có nhiều phim câm do Việt Nam hợp tác với nước ngoài sản xuất.

Năm 1924, ông Nguyễn Lan Hương, chủ tiệm nhiếp ảnh Hương Ký ở Hà Nội, mời người Pháp về dạy nghề rồi làm bộ phim hài Đồng tiền kẽm tậu được ngựa, dài 6 phút, phỏng theo ngụ ngôn của La Fontaine. Sau vài phim hài và tài liệu có tiếng vang, tỉnh trưởng Vân Nam, Trung Quốc đã đặt ông làm hai phim phóng sự, quay tại Trung Quốc, ví dụ phim Đám tang tướng Đường Kế Nghiêu, năm 1929. Đây được xem là cộc mốc của việc xuất khẩu đạo diễn.

Năm 1937, nhóm làm phim Đàm Quang Thiện cùng Công ty Điện ảnh Nam Trung Hoa (The South China Motion Picture Co.) làm bộ phim Cánh đồng ma (KB: Nguyễn Văn Nam, tức Đàm Quang Thiện), nói tiếng Việt. Đây là giai đoạn bắt đầu kỷ nguyên phim nói, 22 diễn viên Việt được “xuất khẩu” sang Hong Kong để quay phim.

Năm 1945, danh họa - nhà quay phim Mai Trung Thứ (1906-1980) cùng các Việt kiều Pháp đã lập nhóm Sao Vàng, quay vài phim tài liệu như Hồ Chủ tịch tại Pháp, Hội nghị Fontainebleau, Sinh hoạt của 25.000 Việt kiều tại Pháp… Cũng nên xem việc làm phim của các Việt kiều và các nhà điện ảnh gốc Việt từ xưa đến nay là một phần của việc xuất khẩu điện ảnh Việt - dù có thể không trực tiếp, nhưng tên tuổi (có dính tới tiếng Việt) của họ đã góp phần quảng bá cho “danh tiếng” (theo nghĩa rộng) của điện ảnh Việt Nam.

Từ năm 1948, điện ảnh miền Bắc đã thực hiện Trận Mộc Hóa ở miền Nam, phim này được trình chiếu tại Liên hoan Thanh niên thế giới New Delhi, Ấn Độ năm 1950. Năm 1959, phim Đứa con của biển cả do Trung tâm Quốc gia điện ảnh miền Nam thực hiện đã đoạt giải thưởng đặc biệt của Liên hoan phim Berlin 1959. Năm 1966, tại Đại hội Điện ảnh Á châu lần thứ 13, Xuân Dung được trao giải Nữ diễn viên xuất sắc nhất với phim Đôi mắt người xưa, giải thưởng lớn đầu tiên của điện ảnh miền Nam. Phim truyện màu này do Nguyễn Văn Liêm đạo diễn, Liêm Phim sản xuất, với sự hỗ trợ của chuyên gia và ê-kíp Nhật Bản.

Việc điện ảnh Việt tham gia các liên hoan và đoạt giải thưởng quốc tế sau này thì rất nhiều, không cần kể lại. Tuy nhiên, phải khẳng định một điều rằng việc tham gia này là một phần dấu ấn của việc xuất khẩu tác phẩm điện ảnh Việt Nam ra thế giới.

Tất cả những điều vừa nêu là chưa nói đến các đạo diễn, diễn viên, nhà biên kịch, nhóm cascadeur Việt Nam được mời sang nước ngoài cộng tác làm phim, thực chất cũng là… xuất khẩu.

***

Cũng xin nói thêm, cột mốc lớn nhất của việc xuất khẩu phim Việt phải kế đến sự xuất hiện và liên doanh của các chuyên gia người Việt ở hải ngoại.

Năm 1985, người mở đầu “làn gió ngoại” có thể là đạo diễn Hồ Quang Minh khi từ Thụy Sĩ về nước thực hiện phim Con thú tật nguyền, Hãng phim Giải Phóng sản xuất. Năm 1993, Trần Anh Hùng thực hiện phim Mùi đu đủ xanh, kể chuyện đời một cô gái ở thập niên 1950 tại Sài Gòn. Rồi Xích lô (1995) của anh đoạt giải Sư tử Vàng tại Liên hoan phim Venezia (quen gọi LH phim Venice) vào năm 1995 - giải thưởng quan trọng nhất của một đạo diễn người Việt.


Tiếp theo, năm 1999, Tony Bùi về nước làm Ba mùa, mở ra một thập niên (2000 - 2010) nhiều tiến bộ về nghệ thuật và doanh thu của điện ảnh Việt Nam. Những tác phẩm liên doanh “nội ngoại” làm nên dấu ấn của thập niên này có thể kể [b]Hạt mưa rơi bao lâu[/b] (ĐD: Đoàn Minh Phượng - Đoàn Thành Nghĩa), Áo lụa Hà Đông (ĐD: Lưu Huỳnh), Dòng máu anh hùng (ĐD: Charlie Nguyễn), Huyền thoại bất tử (ĐD: Lưu Huỳnh), Bẫy rồng (ĐD: Lê Thanh Sơn),[b] Để Mai tính[/b] (ĐD: Charlie Nguyễn), Giao lộ định mệnh (ĐD: Victor Vũ), Cánh đồng bất tận (ĐD: Nguyễn Phan Quang Bình)…

Tuy nhiên, dấu ấn xuất khẩu rõ rệt nhất (nghĩa là bán và thu tiền) phải chờ đến Dòng máu anh hùng do Hãng phim Chánh Phương sản xuất với kinh phí hơn 1,5 triệu USD, công chiếu ngày 27/4/2007 tại Việt Nam. Bộ phim không thu được vốn tại thị trường nội địa, những nhờ chiếu tại Mỹ và phát hành DVD tại các nước nói tiếng Anh mà hòa vốn.



Phim này hoặc mở cảnh cửa, hoặc tạo sự tự tin để Chuyện tình xa xứ (ĐD: Victor Vũ), 14 ngày phép (ĐD: Nguyễn Trọng Khoa), Bẫy rồng, Để Mai tính, Bi, đừng sợ! (ĐD: Phan Đăng Di), Chơi vơi (KB: Bùi Thạc Chuyên), Giao lộ định mệnh, Cánh đồng bất tận… tìm kiếm doanh thu tại thị trường nước ngoài ở hiện tại, cũng như trong tương lai. Phim Cú và chim se sẻ (ĐD: Stephane Gauger) do Hãng Chánh Phương sản xuất lần đầu tiên đánh dấu việc hiện diện tại AMC (hệ thống rạp lớn nhất của Mỹ) - một chiến thắng nhỏ của việc xuất khẩu điện ảnh.

Riêng phim Để Mai tính (2010) thì thu về tương đương 3 tỷ đồng tại thị trường Mỹ có thể xem là đỉnh điểm của việc xuất khẩu điện ảnh Việt Nam. Sau 113 năm, có vẻ như tương lai của điện ảnh Việt Nam đang hé lộ rõ ràng hơn.

Văn Bảy
_________________


Được sửa chữa bởi music123 ngày Ba 12 21, 2010 3:02 pm; sửa lần 1.
Về Đầu Trang
Xem lý lịch thành viên Gởi tin nhắn
music123
Moderator


Ngày tham gia: 18 12 2006
Bài gởi: 60955

Bài gởiGởi bởi: Ba 12 21, 2010 11:30 am    Tiêu đề:

Điện ảnh Việt: Câu chuyện xuất khẩu (Bài Kết)

Thứ Ba, 21/12/2010 08:13


- Lịch sử điện ảnh Việt Nam thế kỷ 20, nếu chỉ chọn một nữ minh tinh được quốc tế nể trọng thì Thẩm Thúy Hằng (sinh 1941) là một chọn lựa xác đáng.

Tại nhiều nền điện ảnh như Nhật Bản, Liên Xô, Tây Đức, Mỹ, Philippines, Thái Lan, Hong Kong, Đài Loan, Hàn Quốc, Ấn Độ, Singapore, Indonesia... dấu ấn của Thẩm Thúy Hằng vẫn còn trong các sử liệu điện ảnh. Bà được xem là một biểu tượng của xuất khẩu nhân lực điện ảnh.


Năm 1969, khi đã trở thành siêu sao, với cát-sê thuộc hàng kỷ lục, bà lập hãng phim riêng và sản xuất Chiều kỷ niệm (ĐD: Lê Mộng Hoàng, lời thoại: Năm Châu), phim trắng đen, 35 mm, dài 105 phút, với đầu tư vài triệu, chỉ trong vài tuần, doanh thu đã lên tới 10 triệu đồng. Trong lịch sử điện ảnh Việt Nam, chưa có diễn viên nào mà tiền cát-sê cao và có thể chiếm đến 1/3 tổng số tiền sản xuất của một bộ phim, giống như Thẩm Thúy Hằng.



Còn hiện tại dù phim Việt đã bước đầu bước ra ngoài biên giới quốc gia nhưng vẫn còn rất ít ỏi và con đường rất chông gai và đầy nhọc nhằn.


Nguyễn Thái Hòa - (Giám đốc Hãng phim Giải Phóng):

Bán phim chủ yếu do “ăn may”…

- Đến nay, theo tôi biết thì chưa có bộ phim Việt nào được gọi là xuất khẩu theo đúng tiêu chí mua - bán để kinh doanh kiếm lợi nhuận cả - ông Nguyễn Thái Hòa cho biết. Thường phim của mình được bán ra nước ngoài là do khi mang đi chào hàng thì may mắn gặp được vài đối tác lẻ mua theo kiểu ủng hộ là chính. Phim của hãng Giải Phóng cũng vậy, có phim may mắn thì được 1-2 nơi mua, có phim mang đi hội chợ thì gặp được đối tác, nói chung là cũng do “ăn may”.

Trước đây Ai xuôi vạn lý bán được đâu một, hai chục ngàn đô-la. Mê thảo thời vang bóng bán được cho 2 nơi, một ở Mỹ (60.000 USD), một ở Nhật (80.000 USD). Ở Mỹ, đơn vị đó mua để phát hành tại vài rạp nhỏ phục vụ cộng đồng người Việt, còn ở Nhật, họ mua để phát trên truyền hình chứ không phải chiếu rạp. Trăng nơi đáy giếng cũng bán được cho 3 nơi với số tiền mang tính hỗ trợ là chính, khoảng 10-20 ngàn đô.

Nói chung, các đơn vị mua phim của chúng tôi là mua theo diện trao đổi văn hóa. Chúng tôi đưa phim đến những nơi đó cũng thường đưa bằng bản DVD. Một số hội chợ cũng tài trợ cho mình mang phim đến bán, điều này còn phụ thuộc vào mối quan hệ nhưng như tôi đã nói là hoàn toàn mang tính giao lưu văn hóa, họ ủng hộ, giúp mình bù đắp chi phí là chính. Quan hệ này cũng phập phù lắm vì nó phụ thuộc vào nhiều thứ, chẳng hạn như thời điểm phim mình ra thì hội đó, tổ chức đó có kinh phí thì mua chứ lúc họ không có kinh phí thì chịu; rồi phụ thuộc vào người đứng đầu các tổ chức, hội đó nữa. Chẳng hạn Mê thảo thời vang bóng có quan hệ tốt nhất đấy, bán được nhiều tiền nhất, nhưng nhà mua phim ở Mỹ sau đó không thấy liên lạc lại nữa. Còn tổ chức ở Nhật có ông chủ thích những bộ phim mang tính nghiên cứu, có cả một bộ sưu tập những bộ phim của các nước đang phát triển, ông ấy ứng trước 80.000 USD cho hãng khi Mê thảo còn là kịch bản với một thỏa thuận là khi nào làm xong thì đưa cho ông ta một bản. Bây giờ thì ông ấy đã đi sang thế giới bên kia rồi, và người kế nhiệm của ông ấy cũng từ biệt chúng tôi luôn!



Mê thảo thời vang bóng bán được nhờ có nhiều mối quan hệ tốt


* Nghe nói Long thành cầm giả ca cũng thuộc diện xuất khẩu?

- Có đấy nhưng chưa có kết quả. Trước đây Mê thảo cũng phải đợi 6 tháng mới có người mua. Phải đi nhiều mới mong bán được cho một vài chỗ.

* Cảm ơn ông.

Jimmy Nghiêm Phạm - (GĐ, Chủ tịch HĐQT Hãng phim Chánh Phương[b]):

Một tiền lệ mới đang được mở ra…[/b]

Theo tôi thấy, Việt Nam rất có tiềm lực xuất khẩu phim. Chỉ có điều, những nhà làm phim tại Việt Nam chưa hiểu rõ về nhu cầu của những hãng mua phim nước ngoài; chưa hiểu về các quy chuẩn để làm ra một bộ phim có chất lượng về kỹ thuật, đủ điều kiện để họ chọn mua và phát hành rộng rãi.

Theo tôi tìm hiểu, từ trước đến nay điện ảnh Việt có mấy kiểu làm phim như sau: 1. Dòng phim do nhà nước sản xuất về chiến tranh, về đất nước, con người Việt Nam theo hướng tài liệu, lịch sử. Thể loại này thì không thể mua để chiếu rạp, người nước ngoài chỉ mua để chiếu trên tivi, hay làm sử liệu về sau này. 2. Dòng phim nghệ thuật, thường được giới làm nghề và giới giải trí ưa thích. Trước giờ Việt Nam cũng thích làm loại này nhưng chưa phát hành rộng rãi được, vì nhiều lý do. 3. Dòng phim thương mại đang phát triển rất nhanh trên thị trường phim ảnh và truyền hình ở Việt Nam. Thể loại này cũng được yêu cầu nhiều nhất trên thế giới. Hiện nay, khi ra bất kì hệ thống rạp chiếu nào ở Việt Nam hay trên giới, thể loại này luôn chiếm ưu thế. 4. Một số thể loại khác...


Với khoảng 3 tỷ đồng tiền vé tại hải ngoại, Để Mai tính được xem là
cột mốc thành công về doanh thu của việc xuất khẩu điện ảnh.


Khó khăn lớn nhất hiện giờ là nhà đầu tư chưa dám bỏ nhiều tiền để làm phim. Mức đầu tư an toàn là 5-10 tỷ đồng/phim và sau 6 tháng làm phim, 3 tháng phát hành, sẽ thu lời từ 1,2 đến 3 tỷ đồng. Trong khi ấy, Việt Nam đang nhập khẩu rất nhiều phim từ nước ngoài, chiếm 80-95% trên tổng số phim chiếu rạp. Những phim nhập vào Việt Nam được đầu tư từ vài triệu USD cho đến những siêu phẩm Hollywood 200-300 triệu USD.


Điều này cho thấy một cuộc chiến không cân sức và không công bằng giữa phim Việt và phim nước ngoài. Kinh phí eo hẹp là một trong những yếu tố chính ảnh hưởng xấu đến chất lượng phim. Nhưng do không có hướng xuất khẩu khiến nhà đầu tư e ngại. Hai lý do nữa khiến nhà đầu tư e ngại. Thứ nhất, phim Việt chưa tạo đủ lòng tin cho khán giả để họ cảm thông và trông đợi.


Thứ hai, số lượng rạp chiếu phim chưa đủ đáp ứng nhu cầu của một nước với dân số gần 90 triệu người. Nếu đủ số rạp, nghĩa là quá trình hồi vốn và thu lãi nhanh, các nhà đầu tư sẽ mạnh dạn hơn trong việc bỏ tiền làm phim, dù hướng xuất khẩu vẫn bí lối.

Tuy nhiên, tôi thấy tình hình cũng có dấu hiệu khả quan. Hồi Dòng máu anh hùng chuẩn bị phát hành, chúng tôi đi chào bán ở rất nhiều nơi, nhưng khi nghe nói đến phim Việt là họ lại nghĩ đến những phim chiến tranh mà Việt Nam đã làm nên không quan tâm, thậm chí chẳng thèm xem.


Như ông Bey Logan (công ty Weinstein, tại Hollywood), chúng tôi gửi phim cả tháng nhưng không thấy trả lời nên mới điện thoại hỏi thì ông ấy nói chưa xem, sau khi năn nỉ rớt cả lưỡi thì ông ấy hứa tối hôm đó sẽ liếc qua. Trong lúc đang “liếc qua”, ông đã điện thoại cho chúng tôi, trách cứ là tại sao không nói sớm hơn, và quyết định mua ngay đêm đó.




Poster Dòng máu anh hùng khi phát hành tại Mỹ, sự kiện này
đã giúp Việt Nam mở ra hi vọng việc xuất khẩu điện ảnh


Với sự giúp đỡ của công ty Weinstein, Dòng máu anh hùng được chiếu và bán DVD ở các nước nói tiếng Anh; được chào đón tại Trung Quốc và Ấn Độ. Điều này đã giúp xóa bỏ một phần định kiến và mở ra một tiền lệ mới trong việc xuất khẩu. Nhờ vậy mà Bẫy rồng cũng đã được bán và phát hành ở nhiều nước trên thế giới. Sắp tới đây, chúng tôi sẽ hợp tác với các công ty ở Hollywood như Media 8, XYZ Films… để làm một bộ phim hành động bằng ngôn ngữ tiếng Anh, quay tại Việt Nam.

Ngô Thị Bích Hạnh - (Tổng GĐ Công ty BHD):


Nhiều “tài nguyên” chưa được khai thác


Nhìn từ góc độ kinh tế, điện ảnh với một số quốc gia giống như là các làng nghề thủ công nhỏ, tài năng, khéo léo... làm ra được một số sản phẩm mà thế giới ưa thích. Còn với một số ít các quốc gia (Mỹ, Hàn Quốc, Pháp...) điện ảnh đã là một ngành công nghiệp. Việt Nam đang trong giai đoạn đầu tiên của hình thành ngành công nghiệp điện ảnh, chính vì vậy khó khăn còn rất nhiều. Để có làng nghề và có công nghiệp điện ảnh thì một vài doanh nghiệp không thể nào làm được, mà rất cần sự tổng lực và đồng bộ từ cấp độ, nhân lực, hãng phim, nguồn vốn, khoa học công nghệ... cho đến cơ chế phù hợp để hình thành, ổn định và phát triển.

Song tôi thấy Việt Nam là một thị trường tiềm năng, hơn 90 triệu dân với dân số rất trẻ. Lại là đất nước có bề dày lịch sử và văn hóa, nhiều sự kiện…, trong kinh tế nó được hiểu nôm na như tài nguyên chưa được khai thác vậy. Hollywood cũng như điện ảnh Pháp đã thu được rất nhiều thành công cả về mặt nghệ thuật cũng như về mặt tài chính từ các đề tài về Việt Nam.


Nếu Việt Nam có thể xây dựng được một nền công nghiệp điện ảnh thì chúng ta có thể khai thác được tài nguyên văn hóa này, bởi hơn ai hết tôi tin tưởng rằng người Việt Nam là người hiểu nhiều nhất về văn hóa, con người cũng như lịch sử nước mình.

Tài nguyên giàu có, thị trường lớn... chỉ có con người, nguồn vốn và các cơ chế hỗ trợ của cộng đồng những người yêu phim để cho những con người đó có thể biến được những tài nguyên văn hóa thành những tác phẩm, những sản phẩm mang lại cả giá trị nghệ thuật cũng như kinh tế.


Thực hiện: Vân Anh-Văn Bảy-Như Hà
_________________
Về Đầu Trang
Xem lý lịch thành viên Gởi tin nhắn
Trình bày bài viết theo thời gian:   
Gởi bài mới   Trả lời chủ đề nầy    Diễn Đàn MẪU TÂM -> TIN TỨC VĂN NGHỆ - THỜI SỰ HẢI NGOẠI Thời gian được tính theo giờ Việt Nam PST (U.S./Canada)
Trang 1 trong tổng số 1 trang

 
Chuyển đến 
Bạn không có quyền gởi bài viết
Bạn không có quyền trả lời bài viết
Bạn không có quyền sửa chữa bài viết của bạn
Bạn không có quyền xóa bài viết của bạn
Bạn không có quyền tham gia bầu chọn
|   Register   |   Tin nhắn riêng   |   Đăng Nhập

Powered by -php_BB- Copyright © mautam.net, 2005. All Rights Reserved