Tập Truyện Ngắn Sưu Tầm
Chuyển đến trang 1, 2, 3  Trang kế
 
Gởi bài mới   Trả lời chủ đề nầy    Diễn Đàn MẪU TÂM -> GÓC ĐỌC & NGHE TRUYỆN ONLINE
Xem chủ đề trước :: Xem chủ đề kế  
Tác giả Thông điệp
thien_than_nho_be



Ngày tham gia: 04 2 2006
Bài gởi: 50
Đến từ: germany

Bài gởiGởi bởi: Bảy 2 04, 2006 3:14 am    Tiêu đề: Tập Truyện Ngắn Sưu Tầm

Anh chỉ nhớ em thôi

Nguyên thường có cái thú là ngồi trước màn ảnh truyền hình để xem chương trình thời sự. Chẳng phải anh muốn có thêm kiến thức về tình hình trong tỉnh tuần qua đâu, mà bởi vì trong chương trình thời sự mỗi đêm, người phát thanh viên chẳng ai khác hơn chính là Quy. Thật là thú vị khi có người yêu xuất hiện trên ti vi hàng đêm để ngắm nhìn. Rồi chẳng bao lâu khi Quy trở thành "bà xã của ông Nguyên", Nguyên vẫn không bỏ thói quen ngắm nhìn vợ mình qua màn ảnh nhỏ như thế.
Nghề nghiệp của hai người hoàn toàn không giống nhau. Quy tốt nghiệp đại học kinh tế, nhưng có bao nhiêu người có bằng cử nhân kinh tế nên Quy đành phải ở nhà, mỗi buổi sáng ra phụ bán cho shop quần áo của mẹ. Cho đến khi đài truyền hình thi tuyển phát thanh viên, Quy cũng nộp đơn cầu may, nhưng kết quả cuối cùng là đài chỉ tuyển có ba người mà Quy thì đứng... thứ tư. Mặc dù đậu vớt, vận may lại đến với Quy vì có một cô trong tốp ba người nhờ đoạt giải giọng hát hay trên sóng phát thanh truyền hình nên đã xin nghỉ việc để vào TPHCM tìm cơ hội. Thế là Quy có việc làm.
Sau này ông Giám đốc vẫn gật gù cái đầu khi nói chuyện với Quy: "Chú không ngờ cháu lại là phát thanh viên giỏi. Suýt tí nữa thì một tài năng bị thất nghiệp". Quy chỉ cười, mỗi lần Quy cười thì hai hạt gạo ở hai bên má cứ rung rung khiến cho khối chàng trai phải ngẩn ngơ.
Hôm chính thức trở thành phát thanh viên, Quy đã mời Nguyên đi ăn nhà hàng. Ðó là ngoại lệ, bởi vì từ ngày quen nhau, do phải góp nhặt tiền bạc để làm đám cưới, cả hai chỉ rủ nhau đi ăn vỉa hè. Bà bán thịt vịt ở Cầu Dứa đều quen mặt hai người. Khi thấy họ xuất hiện, ngay tức khắc bà đem ra một đĩa tiết canh, một cái đùi luộc, cổ đầu vịt và một chai bia Sài Gòn, có khi hai người chán ăn thịt vịt, lại chở nhau đến tận quán nhỏ dựa theo dòng sông Cái, kêu nửa con gà luộc. Quen Quy, dần dần Nguyên trở nên nghe lời Quy giống như một cậu học trò luôn luôn tin tưởng tuyệt đối vào những bài giảng của cô giáo. Việc mỗi đêm Quy xuất hiện trên màn ảnh nhỏ đã khiến cho Nguyên "yên bụng" vì chẳng có anh chàng nào "mắt liếc ngược liếc xuôi" tán tỉnh Quy. Lễ cưới được tổ chức sau hai tháng Quy về đài phát thanh truyền hình.
Dáng Quy nhỏ xíu, khi mặc áo dài Quy thật mảnh khảnh và trông yếu đuối làm sao. Thời đi học, Quy được bầu làm lớp trưởng, những cậu học trò cùng lớp đã tặng cho Quy một cái tên rất ư là học trò: "Bà lớp trưởng". Mặc dù là con gái, nhưng do bản tính năng động nên bọn con trai trong lớp đều e dè Quy. Quy mang tính cách của một người chỉ huy từ thuở đi học về làm vợ Nguyên. Yêu thương vợ, Nguyên gần như chấp nhận những điều kiện mà Quy đưa ra.
- Anh không được tiêu xài không có kế hoạch. Tiền bạc thời buổi này cần phải chắt chiu để mua một căn nhà.
Nguyên chống chế:
- Nhưng nhà của bố mẹ cho mình mà. Trước sau thì nó cũng thuộc về mình. Mình mua nhà làm gì nữa?
Mỗi lần Nguyên phản đối một điều gì, Quy luôn luôn trả lời:
- Em nói anh có nghe không?
Những cuộc nhậu thời độc thân dần lui vào quá khứ từ ngày có Quy. Bạn bè gọi điện, Quy trả lời rất nhỏ nhẹ: "Em có cấm anh điều gì đâu. Ðó là sự tự nguyện mà". Chiếc điện thoại di động không còn là phương tiện liên lạc hữu ích của thời đại thông tin bùng nổ nữa. Nó trở thành công cụ kiểm soát chồng. Việc ngồi trước ti vi xem vợ lúc đầu là thú vị, khi hết giờ làm việc ở đài, Nguyên mới chở vợ về. Quy rất vu vơ: "Em mặc chiếc áo màu xanh lên ti vi có đẹp không anh?". "Ðố anh biết hôm nay em tô son màu gì?".
Ðời sống là những hẹn hò cuống quýt, còn là sự hoàn thiện của cho và nhận. Với Nguyên, anh từng hứa với Quy khi có được Quy bên cạnh cuộc đời mình, Nguyên sẵn sàng nghe theo lời Quy. Anh đã hứa như thế trong một buổi chiều mát mẻ, khi hai người dạo chơi ở ngoại ô, không gian là những đồng lúa đang lên xanh, gió cứ thổi, gợi cho những vạt lúa lao xao như sóng. Sống với nhau rồi quen. Bạn bè kháo nhau: "Thôi đừng có rủ thằng Nguyên đi nhậu nữa, bà chằng Nguyên biết được thì nó ra hè nhà mà ngủ", có người còn đùa cợt với Nguyên: "Này, bà xã của mày làm gì mà mày sợ dữ vậy?". Lúc đầu là đùa, nghe xong cười, bỏ qua. Nguyên còn chống chế: "Tao sợ vợ tao chứ tao sợ vợ mày sao mà nhiều chuyện quá vậy?". Rồi Nguyên bỗng ngạc nhiên, là một tên đàn ông to lớn như mình tại sao bỗng dưng lại sợ một người đàn bà nhỏ xíu như thế? Quả thật cuộc sống là những điều tưởng chừng như vô lý mà thực ra lại có lý.
Thời gian trôi biệt giống như những cơn mưa qua, rồi tạnh. Lớp trẻ lớn lên, chúng lại thế chỗ của lớp trước. Trong đài truyền hình của Quy cũng vậy, vừa có thêm một số bạn trẻ tuyển vào để làm phát thanh viên. Quy về nói với Nguyên:
- Em sắp được đi Ðà Nẵng học khoá biên tập ba tháng. Anh có mừng không?
Nguyên nói đùa: Mừng.
- Ừ, không mừng sao được khi mà bạn bè rủ đi nhậu không bị vợ ngăn cản. Hàng đêm không phải ngồi trước ti vi để xem vợ mình nói năng. Chưa hết, rồi mặc sức quăng quần áo tứ tung trong nhà, ngủ không chịu đánh răng, sáng không chịu chải đầu. Anh có ba tháng tự do đó. Sướng chưa?
Chuyến xe lửa đêm dừng lại 10 phút. Tay Nguyên vẫy trong bóng đêm Quy không nhìn thấy. Những ngọn đèn đường ngả màu vàng chiếu rọi khiến cho con đường có chút gì đó như một bài thơ. Ba năm sống bên nhau, chưa bao giờ hai vợ chồng xa nhau một bước, chưa bao giờ Nguyên làm điều gì trái ý vợ. Giờ đây anh chỉ có một mình trong lòng thành phố như anh đã từng ao ước là lúc nào đó mình sẽ thật tự do như con chim. Nguyên sẽ không sợ Quy nhăn nhó khi chiếc đồng hồ đã chỉ đúng 9 giờ tối mà anh chưa về, bởi mâm cơm chỉ được dọn ra khi chỉ có hai người. Còn nếu hôm nào Quy trực đêm trên đài, thì bữa cơm lại sớm hơn thường lệ.
Nguyên không về nhà vội. Bởi đâu có ai nhắc nhở sự trở về của anh đâu? Ðêm đã đưa Quy đi xa, Quy còn đi xa ba tháng xa lắc nữa kia mà.
Quán lẩu nằm nép mình dưới tán cây me lớn. Chủ quán đã chọn cho quán một cái tên cũng rất dễ thương: "Quán cây me". Những Ngạn, Tuy, Hà... đủ những thằng bạn nhậu đều có mặt. Tiếng cười vui ầm ĩ:
- Hôm nay thằng Nguyên phải say. Say cho bõ những ngày sợ vợ. Say cho những ngày bị cấm uống.
Nguyên uống. Nhưng thói quen uống bia cho say đã mất. Anh nhận ra chốn này không phải chốn của mình. Say để làm gì? Trước mặt anh là những gương mặt đỏ gay vì rượu. Nguyên nói:
- Thôi! Tao về.
- Vợ mày có nhà đâu mà về?
Căn nhà thiếu bóng đàn bà rộng thênh thang. Trên chiếc bàn nhỏ đầu giường là tấm giấy Quy ghi chi tiết những điều Nguyên cần nhớ: "Em đã đặt cơm tháng cho anh. Quần áo dơ, nhà sẽ do chị Kim bên cạnh qua phụ giúp. Anh cứ coi như còn độc thân. Khi nào nhớ em thì anh gọi điện kẻo người ta gọi anh là ông chồng sợ vợ".
Anh phì cười. Không biết chiếc điện thoại di động Quy mang theo bên người có mở máy không? Và không biết tàu có vào khu vực có sóng điện thoại? Nguyên nhấn đại vào những con số. Tiếng Quy bên kia: "Làm gì khuya khoắt mà anh gọi điện cho em, bộ anh sợ em kiểm tra hả... ông sợ vợ". Nguyên thì thào trong máy, tiếng anh theo gió đến tận toa tàu của Quy: "Anh đâu có sợ em, anh chỉ nhớ em thôi. Mới có một buổi mà anh buồn quá. Anh đi Ðà Nẵng vào tuần sau nhé". Tiếng Quy cười ròn tan: "Không khéo mấy ông bạn của anh lại nói em bắt anh đi Ðà Nẵng như bắt anh ngồi trước ti vi...".

Phan Thị Tần

_________________
Về Đầu Trang
Xem lý lịch thành viên Gởi tin nhắn Gởi email Yahoo Messenger
thien_than_nho_be



Ngày tham gia: 04 2 2006
Bài gởi: 50
Đến từ: germany

Bài gởiGởi bởi: Bảy 2 04, 2006 3:15 am    Tiêu đề:

Ẩn Lan

Mặt trời hắt những tia nắng thăm dò xuống triền non lãng đãng sương mù và khí lạnh rồi tung cả súc lụa vàng mỡ óng ả lên đại ngàn bát ngát. Rừng đồi run rẩy đón nắng, thứ nắng mời thơm lừng, nồng nàn, say đắm, suồng sã đặt môi lên mọi thứ. Trong lặng im muôn vàn tiếng gọi. Chồi gọi cành khô. Cát bụi gọi nhau. Tất cả đều hối hả bởi chỉ cần một cơn gió, cái màu trắng sữa từ núi, từ thung lũng lại ùn ùn toả ra đánh dạt cả màu nắng ung dung dạo chơi trên những ngọn cây chót vót hoặc vắt qua đầu non, trầm mặc như một vị hiền triết nhìn xuống cõi ta bà xanh xanh dưới kia. Ở đó có ba bóng người đang chầm chậm bước. Người đi sau cùng cao lênh khênh, cái gì cũng dài. Tóc phủ vai. áo padessus phủ gối. Anh ta nhấm nháp con đường đất cỏ mọc um tùm dẫn lên đỉnh núi bốn mùa mây phủ một cách nhẩn nha thú vị khiến hai kẻ đồng hành thỉnh thoảng phải đứng đợi càu nhàu:
- Thưa cả rùa! Đường dài đến 19km, cứ ở đó mà tha thẩn.
- Tao nghiện những nhánh đường mòn hoang vu. Năm mười năm nữa khi con người “cứu” lấy nơi này, biến thành Trung tâm du lịch, du hí, chúng sẽ được rải đá, tráng nhựa cho xe hơi chạy bon bon. Khi ấy quán mọc ven đường, gà mắt xanh mỏ đỏ xuất hiện trong bụi, bia lon đồ hộp xả đầy cỏ... chúng sẽ chết vì bụi phù hoa!
- Thế mày thích ngủ đêm trong “biệt thự” hay trong bụi?
- Bên bờ suối.
- Cho cọp tha, trăn quấn đầy à?
- Đừng doạ! Nếu sợ đây đã ở nhà ôm vợ ngủ.
Gã rậm râu, dáng đậm, gân guốc bật cười nhưng mắt gã vẫn nhìn đăm đăm lên đỉnh núi.
- Đúng núi đẹp lạ! Tự tại thanh thản trong sương mù, phù vân và vĩnh cửu như đời. Không biết người có trong đó không?
- Người nào?
- Một vị đại tiền bối.
- Đạo sĩ ở ẩn hả?
- Không, tiền sử. Trước hoặc cùng thời với khủng long.
- Thế mà tìm! Đồ... đồ đá!
Một tràng cười rổn rảng vang lên làm những chú chim đang rỉa lông rỉa cánh trên cỏ bay vụt lên.
- Nói với chúng mày còn thua nói với đầu gối?
- Thế vị tiền sử đó là ai vậy?
- Thông hai lá dẹt!
Tiếng cười lại vang lên. Giòn tan, khoẻ khoắn.
- Chúng mày chịu tiền, tao sẽ dẫn lên quần sơn Lang Bian - Bidoup để chiêm ngưỡng người. Đó là một hoá thạch sống thật sự, tồn tại như một phép lạ sau những cơn thiên địa đổi dời hàng trăm triệu năm trước. Núi này có loại tùng quí, biết đâu... Gã bỏ lửng câu nói rồi dường như không kìm lòng được lại tiếp tục:
- Mười năm trước, một đoàn khoa học nước ngoài đã đưa giá 50.000 USD để rước về nước họ hai cây mà không được.
- 50.000 USD hai cây?
- Nghe tiền là sáng mắt. Thế mày tưởng tượng một con khủng long nếu còn giá bao nhiêu?
- Ừ hé! Nếu có, đốn về bán cho mấy nhà thực vật học mộng du.
- Đốn? Bước qua xác tao đã. Nếu đây mà có, tao nguyện dọn lên núi ở, lấy thân mình bảo vệ “sứ giả tiền sử” ấy!
- Ô hô! Hiệp-sĩ-thông-hai-lá-dẹt!
Họ lại ngoác miệng cười. Anh chàng bốn mắt, vai đeo máy ảnh chỉ góp cười mà không góp lời. Anh ta dán mắt xuống đất như sợ dẫm lên những cánh địa lan màu tím, màu đỏ... rập rờn theo những bước chân đi.
Họ là những kẻ mơ mộng!
° ° °
Những kẻ mộng mơ ấy đã sống như người mộng du giữa núi rừng mù sương và tĩnh lặng. Mùa xuân, đất trời thi nhau độ lượng. Chung quanh họ, thiên nhiên bày cảnh ái ân đầm ấm khắp nơi. Vẻ đẹp trần gian ở đây tuyệt vời đến nỗi anh chàng nghiện hoang sơ phát cuồng. Anh ta nằm lăn, hôn hít, nhảy tưng tưng vì khoái chí. Anh ta hí, gáy, hú, gầm... như thử tâm hồn đã đồng điệu cùng muông thú và hoang dã hay chưa?
- Phải xin cho thằng này làm kiểm lâm mất! Này! Vừa thôi, mày hú to thế vượn cái kéo đến cả bầy thì khốn.
- Nhưng sướng quá! Tao cứ muốn hét, muốn khóc, muốn quỳ lạy.
- Lạy ai?
- Lạy Thượng đế. Tôi tin có người từ vẻ đẹp của thiên nhiên. Giá tao biết hoa, lá, đá, suối... nói gì?
- Nói mày chập điện.
- Cũng được. Là lá la... và cứ thế anh ta cúi hôn một mảng rêu phong mọc mướt hình hài, liếm giọt nước mắt đá, vuốt ve một đoá hoa dại, thì thầm với lau lách... Núi rừng tinh khiết đã tắm gội linh hồn những kẻ trần tục. Họ lang thang suốt ngày, ăn uống đạm bạc mà vẫn cứ lâng lâng. Mới hai hôm, chàng tóc dài đã rủ rê được một nàng khỉ đuôi dài ngồi trên vai vạch tóc anh ta bắt chấy. “Hiệp sĩ thông hai lá dẹt” thì cứ vạch rừng nhằm hướng các cây cổ thụ cao ngất như anh chàng lực điền xưa kia ngóng cổ tìm cây tre trăm đốt. Chàng bốn mắt loạng quạng theo gió núi hoa ngàn, thỉnh thoảng lại hỏi:
- Chúng mày ngửi thấy gì không?
- Mùi hoa cỏ, lá mục...
- Cứ có gió là tao ngửi thấy một mùi hương dịu lắm, thanh lắm, lâng lâng váng vất.
- Mũi tao điếc hoặc là mày loạn khứu giác.
- Thật đấy! Mùi hương trốn tìm, thoảng có thoảng không. Ông tao bảo trong núi này có một giống lan quý, thơm thuyền hoặc và đẹp không thể tả. Ai thấy rồi không cất bước được.
- Lan gì mà dễ sợ vậy?
- Ẩn lan. Đành gọi thế!... Chúng mày thấy gì trên đỉnh núi không?
- Một con ngựa trắng tung bờm phi về phía đông.
- Chở ai không?
- Mây chở mây!
- Ông tao bảo ngựa chở một người con gái.
- Ông mày không được bình thường. Còn sống không?
- Ông tao đi biệt từ năm 51 tuổi, nếu còn sống năm nay khoảng 75. Cô tao bảo chắc ông tao chết vì lan.
- Vì lan? Hai cái miệng há hốc.
- Ừ! Đó là câu chuyện lãng mạn cuối cùng của thế kỷ hai mươi. Tao tin thế! Chúng mày nghe không?
Câu chuyện ấy được kể bên ánh lửa bập bùng trên cái nền cỏ mọc vốn là nền một ngôi biệt thự cách đây hơn nửa thế kỷ. Nghe nói xưa kia có trên trăm biệt thự như thế rải quanh sườn núi từ độ cao 1000-1400m, làm thành một khu nghỉ mát lý tưởng của người Pháp. Đô thị hoang phế bởi thời gian, chiến tranh và cả sự đập phá của con người nay còn lại những mảng tường cụt đầu, những bậc thềm rêu phủ, những hầm rượu chìm trong lau lách, những hàng chữ in mực rêu...
Cuối cùng thiên nhiên đã lấy lại những gì của nó!
° ° °
Người chùa gọi người đàn ông đứng tuổi say lan ấy là ông Lan Hữu. Ngày hửng chút nắng, có gió may đã thấy ông bước vào cổng chùa để đêm ấy thức đón lan Giáng Thu thơm lừng hương quế. Mồng 9 tháng 2 Âm lịch đã có ông chực sẵn chờ lan Ý Thảo nở. Mùa xuân, đàn ong vàng xúm xít trên chồi kim Phong Hội giục giã ông đón tàu xe, lội bộ cả đoạn đường gập ghềnh để lên chùa... Ngôi chùa nhỏ dưới chân đèo Hải Vân được gọi là chùa Lan. Đó là một thảo lư đúng nghĩa, lộng gió núi và biển nhưng “tứ thời tịch mịch hoa khai”. Sư trụ trì vốn là một nghệ nhân bon sai, quan niệm cái Đẹp chính là Đạo. “Trồng hoa cũng là cách hằng hóa tâm đạo, truyền tiếng nói thầm lặng cửa thiền”. Lan nở rải bốn mùa theo loại, ông Lan Hữu cũng bốn mùa lạy Phật thưởng lan. Chăng ai rõ về ông lắm. Chỉ biết ông trạc dưới năm mươi, khoẻ mạnh, khá phong lưu, ngủ chùa thường xuyên không ràng buộc. Nghe lan quý ở đâu cũng tìm đến xin ngắm hoặc mua. Đối với ông đó là loài hoa đẹp nhất vũ trụ, đẹp từ dáng rễ, dáng lá, từ hoa đến hương. Người trồng hoa và kẻ say hoa dần dần thành tri kỷ.
Năm ấy, như thường lệ, người chùa Lan lại làm một cuộc ngoạn du nơi thâm sơn cùng cốc để tầm lan. Họ ra đi vào những ngày cuối đông. Những giò lan kiếm được lúc đem về nuôi rất dễ sống. Chuyến đi ấy, có ông Lan Hữu tham dự.
Anh chàng bốn mắt ngừng kể nhìn ra ngoài trời. Trên cái nền đen nhưng nhức, thăm thẳm của đêm núi rừng, họ bỗng nhận ra đất trời đang vũ hội. Hàng vạn đom đóm núi làm nên hội hoa đăng, chấp chới trên lưng muôn chiếc đèn tí hon chóp đỏ. Côn trùng tấu bản nhạc rừng man dại cho hoa cỏ dìu nhau. Tiếng mầm tách, cỏ hát, hoa cười, tiếng lá rơi khẽ khàng, thanh thản... Sự huỷ diệt, sinh tồn, héo tàn, rực rỡ diễn ra nhẹ nhàng thầm lặng trong bóng tối bao dung, dưới những ngọn nến xanh của những chồi thông non mới nhú trong cây Noel vĩ đại của đất trời. Anh chàng nghiện hoang sơ và hiệp sĩ thông hai lá dẹt đều biến thành trẻ con, nhào ra đuổi theo những ngọn đèn trong mơ. Sao trên trời. Sao trước mặt. Sao trên biển Đông từ những đốm lửa thuyền chài. Sao thực, sao mơ, sao xa, sao gần... chưa bao giờ họ được thấy nhiều sao như vậy.
Chàng bốn mắt kêu lên:
- Tụi mày có đọc những vì sao của Alphonse Daudet không? Tao tin đêm ấy cũng như thế này!
- Cái chuyện có cô chủ nhỏ buồn ngủ tựa đầu trên vai chàng chăn cừu trên núi chứ gì? “Hiệp sĩ thông hai lá dẹt” lên tiếng.
- Óc thúi rồi! Không một chút tưởng tượng. Đó là một vì sao mỏng manh nhất, sáng nhất, đẹp nhất, lạc đường bay, rơi xuống trần, đậu trên vai một kẻ trần thế! Lãng mạn thật! Hồi đó đọc xong, tao khoái quá, viết ngay một bức thư tình cho người tao đang yêu, trong đó có câu: “Anh mơ một vì sao rụng xuống vai anh”.
- Có effet không?
- Có! Nàng khen tao dân khoa học mà viết thư hay.
Tiếng cười cũng đượm mùi hương, một làn hương thật tinh khiết theo gió phả vào đêm rồi tan trong mênh mông thinh lặng.
Người kể chuyện thì thào:
- Nó đấy! Ngửi cứ lâng lâng muốn đi theo.
- Thôi cha! Cọp đợi bên bờ suối đấy. Vào kể nốt câu chuyện lãng mạn cuối cùng của thế kỷ đi nào!
° ° °
... Đến cửa rừng, các sư, các chú tiểu xếp áo tu hành cho vào túi, mặc như kẻ tục hành. Họ chia làm ba nhóm. Nhóm thứ ba chỉ có hai người - ông Lan Hữu và một chú còn trẻ rất sành lan được sư trụ trì gọi là Tâm Lan. Nhóm này đi theo hướng núi. Chính ngọn núi này đây. Họ lầm lũi trong cái rét tê buốt chỉ vì yêu lan. Một ngày nắng ấm họ gặp một dòng suối. Càng đi ngược dòng, niềm vui càng oà vỡ. Địa lan rập rờn như bướm. Thạch lan vươn những cái vòi thanh thoát với những màu sắc biến hoá diệu ảo. Cao hơn, những giò phong lan bám hờ hững vào cây, thả những chuỗi hoa, vươn những dáng lá đẹp mê hồn. Rừng thơm say đắm. Ông Lan Hữu ngồi bệt bên suối không muốn rời nhưng chú Tâm Lan níu áo bảo đi tiếp. Chú ngửi thấy một thoáng hương dường như xa lắm mà gió vẫn mang thấu nơi này, dịu dàng, dai dẳng.
Giữa trưa, họ đừng lại bên một thác bạc hùng vĩ cao đến hàng trăm mét, tựa như dải lụa vắt qua mây, triền miên hát điệu phù vân trên đá. Cạnh đó, trên ghềnh đá chênh vênh nhìn xuống lũng nhỏ, một giò lan trong mơ đang thả chơi vơi chuỗi ngọc trắng tinh khiết, đẹp kỳ ảo như ánh trăng. Cả vách núi xanh rêu bỗng bừng sáng bởi cái màu trắng trong vô tận ấy. Không gian ngan ngát mùi hương thanh dịu. Ông Lan Hữu quì vậy, chiêm ngưỡng giò lan trên vách núi. Ông không muốn rời lan, cũng không muốn lan rời chuỗi. Đau lòng lắm nếu tách nó ra khỏi khung cảnh thần tiên cô tịch này. Ông chỉ muốn chiêm ngưỡng và không muốn chiếm đoạt, muốn lưu giữ vẻ đẹp toàn bích đó trong mắt ông rồi mặc nó nở tàn trong đá. Ông nói điều ấy với chú Tâm Lan nhưng chú không hiểu. Chú đi tìm lan chứ không phải thưởng lan. Chú trèo lên rồi trườn ra ghềnh đá cheo leo, quên cả hiểm nguy để gỡ thận trọng từng mẩu rễ. Ông Lan Hữu khóc. Dường như có ai thò tay vào bóp quả tim ông khi những mẩu rễ màu trắng với những đường cong nét lượn bất ngờ, xoải ngang phóng túng bị tách khỏi đá. Bỗng một cơn gió thổi. Sương mù dưới thung lũng ùn ùn toả ra. Người và hoa khuất trong màu trắng đục dày đặc. Khi mù tan tác thành những hình thù kỳ dị nháo nhác kéo nhau đi, nhìn lên mỏm đá ông Lan Hữu thấy hoa còn nhưng chú Tâm Lan đã biến mất...
° ° °
- Rồi sao nữa? Hai cái miệng đồng thanh khi người kể chuyện bỗng câm bặt như hến. Có tiếng chân giẫm lên lá.
- Gì thế?
- Báo động. Nếu ngửi mùi cọp thì dọt lên cây mau.
- Mày thì nhát như cáy, khi nào cũng cọp. Tao e chừng “con nai vàng ngơ ngác đạp trên lá vàng khô”. Ra coi mau!
Nai không có nhưng trên mảnh sân lau lách một đôi thỏ rừng đang nhảy xổ vào nhau:
- Tại sao chúng đánh nhau dữ vậy?
- Chàng thỏ đang cố chiếm trái tim nàng thỏ.
- Bằng cách uýnh nàng chí tử?
- Nhưng chúng mày coi, thỏ đực chỉ nhắm túm gáy thỏ cái. Hễ trúng là nàng thua trận, mềm nhũn. Giao ước rồi mà!
- Ngộ nhỉ!... Xuống gần xem cho rõ nào!
Đôi thỏ rừng nghe động, chạy vụt vào bụi, nhưng bên hồ vọng nguyệt còn một chú gấu thò tay khoắng nước.
- Lạnh quá! Vào trong kể tiếp đi. Đang đoạn hồi hộp.
Người kể chuyện nhìn lên đỉnh núi. Con ngựa trắng vẫn tung bờm phi về phía đông. Trên lưng chở mảnh trăng gầy hiu hắt.
° ° °
Chú Tâm Lan tỉnh dậy trong một chiếc lán. Người chú như ai dần. Tay phải và chân phải đều đau khôn tả. Chú nhớ mình đang ở trên một ghềnh đá gỡ những mẩu rễ lan. Vậy đây là đâu? Vực sâu hay cõi trời?... Mù hay mây? Chú cố ngồi dậy, nhưng không thể. Cảm giác đau khiến chú biết mình còn sống. Một thoáng hương dịu dàng khiến chú tỉnh hẳn nhìn quanh. Chiếc lán nhỏ đơn sơ nhưng gọn gàng chứng tỏ có người đang ở. Ngoài kia, trước mặt chú, trên vách đá, chao ôi là lan! Rộn ràng, sung sức, đủ màu, đủ vẻ. Giữa đám nhan sắc ấy, có cả nó. Vẫn cái màu trắng đến vô cùng ấy, vẫn dáng hoa kiều mị ấy, vẫn mùi hương thanh khiết ấy... Dẫu trong đám, nó vẫn riêng một cõi với vẻ đẹp hoàn chỉnh của một thiên sứ. Đang chiêm ngưỡng giò lan, chú bỗng nghe tiếng chân. Rồi một cô gái giắt đầy hoa lá tiến đến bên chú. Trong vòm lá di động ấy có cả một chú chim đang thản nhiên rỉa lông cánh. Chú Tâm Lan ngạc nhiên nhìn cô bé. Cô cũng giương đôi mắt nai ngó chú, dạn dĩ tò mò. Chú cụp mặt xuống không dám nhìn cô lâu. Còn cô, tự nhiên đưa tay sờ nắn những chỗ đau trên người chú mặc cho chú kinh hãi co rúm người lại. Cô bé đi ra rồi trở vào với đôi tay bụm đầy nước kề sát miệng chú. Nước trong tay cô chảy tràn xuống cổ, xuống áo khiến chú phải hé miệng. Nước ngọt và thơm lạ lùng. Do chú khát mà thấy vậy hay do mùi hương từ cái vòng đeo tay xâu bằng hoa dại của cô? Sợ hãi, chú nhắm mắt niệm Phật liên hồi. Khi chú mở mắt, cô bé đã đi khỏi lán.
Một người đàn ông chưa già mấy nhưng tóc trắng như bông lau, da vàng như là úa chữa chân cho chú. Sáng nào ông ta cũng thay thuốc, bó lại bằng vỏ cây và cho chú uống một thứ nước sắc đắng nghét. Ông ta ít nói, câm lặng như núi, đi đứng chậm chạp, nét mặt buồn bã như người ốm. Còn cô gái thì ngược lại. Cô liến thoắng suốt ngày dẫu chẳng ai trả lời cô. Có lần cô hét bên tai chú Tâm Lan: “Nói gì đi chứ? Nói đi!”. Cô chăm sóc một vạt khoai sắn. Thỉnh thoảng gùi về một gùi nấm, măng, mật ong, gùi theo cả tiếng hát trong vắt lạc lõng: “Cây không biết nói. Núi không biết thưa. Một mình ta nói. Buồn ơi là buồn!”. “A di đà Phật”. Câu cuối cùng cô học của chú Tâm Lan.
Thú rừng với cô là bạn. Cô ríu rít trò chuyện với chúng bằng một thứ ngôn ngữ chỉ riêng cô và chúng hiểu. Đôi khi chú hoảng hồn nhìn một con nhím xù gai trong gác lán, một chú gấu con lững thững bên cô. Chú Tâm Lan thích nhìn cảnh cô huýt gió gọi chim như một nữ chúa rừng xanh hoặc vắt vẻo trên cây cùng sóc, cùng khỉ. Lán gần một con suối, ven bờ đầy cỏ mượt và hoa dại. Nhìn xa, bướm như làn mưa hoa, còn hoa đủ màu chấp chới như bướm. Cô ngồi giữa chúng như thể cô đã hoá thân thành chúng. Dần dần chú sợ hãi không nhìn những cảnh ấy nữa. Chú quay mặt vào vách lán và niệm Phật. Sự tĩnh lặng của chú thường bị khuấy động bởi từ đâu quanh đó, cô ném vào chú một thứ trái cây rừng. Cô ném giỏi lắm. Nếu chú từ chối quà tặng, lập tức cô sẽ thò tay vào túi lấy ra một viên cuội nhỏ nhàu trắng. Cô bắn nó chính xác đến độ kinh ngạc.
Ngày thứ tư, cô đem cho chú một điều bất ngờ - ông Lan Hữu. Ông gầy nhọ, hốc hác, trầy trụa vì đói và trèo, bò... Ông đang khốn khổ thì gặp cô. Ông hỏi thăm cô về người bị nạn và cô dẫn ông về đây. Chú Tâm Lan thở phào nhẹ nhõm. Từ đây, chú đã thoát nạn vừa nhắm mắt để cô đút ăn vừa niệm Phật sám hối. Ông Lan Hữu có thể dìu hay cõng chú rời khỏi nơi đây. Khác với sự khắc khoải của chú, gương mặt ông Lan Hữu sáng niềm bình an và hoan lạc. Cõi tiên chính là đây chứ đâu nữa - đầy vẻ đẹp và hương thơm trong lành và tinh khiết. Hai cha con chủ nhân cũng thật tuyệt vời. Ông bố bí ẩn như cây thông già. Cô con trong ngần như nước suối. Đối với ông, cô là giò phong lan tuyệt vời nhất. Cô tự nhiên, mạnh mẽ và thanh khiết như bà mẹ thiên nhiên. Cô dẫn ông đi hái nấm, ngắm lan rừng. Cô rủ ông trèo cây và trong khi ông ôm cây lóng nga lóng ngóng thì cô đã tót lên cao cười khanh khách. Có khi cô ngủ luôn ở đó, bám chặt vào cành, đẹp nao lòng như một nhành phong lan. Ông ngồi đợi cô dưới gốc cây. Còn cô bao giờ cũng dặn ông: “Đừng mét ba cháu. Ba cháu sợ nhất hai điều: Thấy cháu ngủ cây và nghe tiếng súng... đoàng đoàng...”. Mặt cô tái mét, hai tay cô bịt chặt tai bởi chính âm thanh mình phát ra. Dường như tiếng súng tưởng tượng ấy bắn trúng tim cô. Cô lắp bắp: “Hắn rơi xuống... hắn... đang... ngủ... hắn ngủ mãi rồi, không thức dậy chơi với cháu nữa”. Cô oà khóc. Ông không biết hắn là ai nhưng những giọt nước mắt trong veo của cô làm ông bối rối đến muốn khóc theo.
Ông Lan Hữu trầm ngâm khi chú Tâm Lan bàn cách rời thung lũng. Chú tin rằng khoảng một tuần nữa chú chống gậy đi được. Chú cũng ngỏ ý nhờ ông Lan Hữu xin chủ nhân một giò lan quý dâng chùa. Ông Lan Hữu tần ngần chưa dám nói thì chủ nhân đã đoán ý ngỏ lời:
- Nó có hai giò tất cả. Trên kia một và đây một. Tôi không hiểu tại sao nó hiếm vậy nhưng nếu ông thích, ông có thể đem về một giò. Chỉ sợ thiếu đá núi để bám, khí núi để thở, sương núi để uống, nó sẽ chết...
- Chùa Lan cũng kề bên núi ông ạ!
- Thế thì được - Người đàn ông vàng vọt ngập ngừng rồi tiếp - Tôi có thể tặng ông cả vách lan với điều kiện...
° ° °
“Điều kiện gì?” Hai kẻ bó gối ngồi bên bếp lửa đồng thanh kêu lên nhưng anh chàng bốn mắt lém lỉnh đã tốp lại đúng lúc. Anh ta bảo muốn ngủ một giấc để có sức đi tìm thung lũng ngàn hoa. Anh ta tin nó có thật trên đời như hiệp sĩ thông-hai-lá-dẹt tin có vị sứ giả tiền sử. Anh ta chui vào túi ngủ nhưng hai tên hóng chuyện đã lôi anh ta ra, gắn vào môi anh ta điếu thuốc. Ngoài kia rừng thông vẫn xạc xào trong gió. Cây chụm vào cây thủ thỉ. Gò đồi soãi những đường cong nét lượn thanh tân tắm ánh trăng non và trên cao, núi hiện ra trong mây mù, cô đơn và bí ẩn. Rít một hơi thuốc, người kể chuyện lại tiếp tục.
° ° °
... Tên Suối, năm nay nó 18 tuổi. Thế là đã 15 năm tôi bỏ phố lên rừng. Mười lăm năm ấy nó không hề được xuống núi. Mỗi năm đôi ba dạo, tôi đích thân gùi măng, nấm, mật ong xuống đổi gạo mắm. Nhưng sang năm, tôi e... không còn đi được nữa. Tôi sẽ được yên nghỉ cạnh em nó nhưng còn nó...? Giọng ông ta bỗng nghèn nghẹn, đứt quãng rồi lại vang lên đều đều như tiếng suối chảy miên man.
Con người có thể thay đổi đến nhận không ra. Mười lăm năm rồi tôi không ăn một miếng thịt thú, nhưng mười lăm năm trước đó tôi là một sát thủ rừng xanh. Tôi lội nát những cánh rừng để đáp ứng nhu cầu cho những nhà thuốc đông y, những quán nhậu, những tay buôn lậu thú quí hiếm... vừa có tiền vừa thoả mãn nỗi đam mê man rợ khi thấy những con thú dũng mãnh, đẹp đẽ nằm sóng soài, bất động trước tài bách phát bách trúng của mình. Tôi có vợ, sinh con bé này... Rồi vợ tôi lại có thai... Một lần, tôi hạ một con khỉ chó mặt đỏ. Nó rơi xuống trước mặt tôi, không chỉ một mình, trong ngực nó là một chú khỉ con đang bám vú mẹ. Máu từ người mẹ nó xối xuống nó mà nó vẫn bú, mắt mở to ngơ ngác nhìn tôi. Khỉ mẹ chết, ánh mắt kinh hoàng đau đớn. Khỉ con chết theo mẹ hai hôm sau. Tôi đem chúng về nhờ người bán thuốc nấu cao cho vợ tôi uống mong rằng khi sinh con trai, nó sẽ cứng cáp... Vợ tôi sinh một đứa con trai bình thường như mọi đứa khác. Nhưng một tháng sau, tiếng khóc nó cứ e é như khỉ... Đôi con ngươi đổi màu rồi mù... Da sạm lại và mọc lông... Vợ tôi bỏ đi... Tôi tuyệt vọng muốn tự tử... Thế rồi... tôi bỗng nhớ ra cái thung lũng kín đáo tuyệt vời tôi phát hiện được trong một chuyến đi săn... Lúc đó con bé này ba tuổi. Thằng em nó mười một tháng.
- Cháu đâu rồi?
Người đàn ông già đưa tay chỉ cái gò be bé như nấm mồ bên bờ suối, giọng ráo hoảnh:
- Nó... nằm đó!
Nó dễ nuôi lắm, chỉ cần chút cháo, trái cây rừng mớm vẫn lớn. Nó thích ngủ cây... thích chuyền cành... thích rúc vào ngực tôi... thích ngửi tay chị nó...
Ông già bỗng im bặt. Thế nhưng ông Lan Hữu vẫn nghe tiếng lô xô của ngàn con sóng âm thanh thổn thức. Bóng ông ta đông lại trong nỗi buồn khắc nghiệt. Ông Lan Hữu cũng im lặng. Vang trong đầu ông, giọng hát lảnh lót của cô bé: “Cây không biết nói. Núi không biết thưa”.
Tu một ngụm nước, nuốt vội nỗi nghẹn ngào, cái giọng trầm đục ấy lại vang lên như cố trút cho xong câu chuyện:
- Con Suối lớn mau, khoẻ như cây rừng, nhanh như con nai con sóc, đẹp như giò phong lan. Tôi không bao giờ kể chuyện dưới ấy nhưng nó vẫn trèo lên đỉnh nhìn về phía ấy. Nó thích cài hoa soi bóng dưới suối. Rồi một ngày... tôi bắt gặp nó ngủ trên cây... Tim tôi thắt lại vì sợ hãi... Nó không hề có nét giống khỉ. Nó đẹp như bà chúa lan. Thế nhưng biết đâu, những người thợ săn lại hoa mắt...
Tôi lại bệnh nặng, một trong tứ chứng nan y. Tôi không sống nổi. Tôi dặn nó nếu tôi chết thì nó phải xuống dưới kia. Nhưng tôi biết dưới kia còn mất an toàn hơn ở đây vì nó không hề được trang bị để sống với con người.
- Và ông muốn tôi đem cháu về - Ông Lan Hữu cất tiếng hỏi.
- Vâng. Đem về và dạy dỗ nó những gì tôi chưa dạy. Xin ông đùm bọc nó bởi không chỉ rừng mới có thú dữ... Tôi chết nó mới chịu rời nơi này. Tôi phải chuẩn bị tinh thần cho nó. Hẹn ông Rằm tháng Hai.
Ông Lan Hữu đưa tay nắm chặt đôi bàn tay vàng bệch của ông già đau khổ. Từ đôi hốc mắt sâu hoắm tưởng chừng đã khô kiệt, những giọt lệ chầm chậm ứa ra như rỉ từ đá.
Gần đó, quay về phía mặt trời lặn, chú Tâm Lan đang tĩnh toạ. Dường như chú không nghe câu chuyện bởi vầng trán chú thanh thản thế kia! Còn cô gái, cô ngồi bó gối nhìn sững gương mặt sáng láng bất khả tổn thương ấy...
° ° °
- Cuối cùng sao mày? Đồ điêu, cứ ngừng ở đoạn hồi hộp.
Người kể chuyện lắc đầu:
- Nhưng tao chỉ nghe cha tao kể lại ngang đó.
- Tại sao?
- Vì ông cũng chỉ biết ngang đó.
- Xạo?
- Thật! Rằm tháng Hai, y hẹn ông tao trở lại thung lũng ấy... Chỉ có ngàn thông và suối hoa.
- Hay ông mày lạc đường?
- Không. Lũng nhỏ có thể nhiều nhưng kề bên cái thác như dải lụa vắt qua mấy từng mây thì chỉ có một. Ông tao bảo giò lan trên vách núi vẫn còn.
- Vậy thì họ đi đâu?
- Không biết. Chỉ biết ông tao trở về như người mất hồn. Đừng bảo tuổi già ổn định. Đấy chính là tuổi bất ổn nhất. Ông biến đổi hẳn.. Không hay lên chùa, cũng không say lan nữa. Ông hay xuống phố, vào chợ, thậm chí vào quán bia... Có lần tao đòi đi theo mua đồ chơi, tao thấy ông lạ lắm. Ông cứ dáo dác nhìn dòng người xuôi như nước như cố tìm ai, miệng lẩm bẩm: “Dòng đời như nước, biết cuốn về đâu?...”. Có nhiều khi ông ngồi dậy trong đêm, lặp đi lặp lại một câu: “Chẳng lẽ đó là một giấc chiêm bao?”. Ông không tin và ông bỏ đi tìm. Khi ông đi rồi, cha tao lên chùa Lan. Cha tao cố ý tìm giò lan hương sắc lạ mà ông kể nhưng ngoài những giống lan đã biết, không có giò lan nào như thế. Cha tao lân la hỏi, một vị sư trả lời: “Ba năm trước, chùa có một giò quí hiếm lắm nhưng cái đẹp thường phù du. Chăm sóc mấy, nó cũng cằn dần rồi chết”.
- Đó là giò lan chú Tâm Lan xin về?
- Không biết. Chùa Lan biết mấy lan đẹp, lan quí. Biết đó có phải là giò lan trên vách đá ấy không? Nhưng càng lớn tao càng tin. Con người cần tin để biết kiếm tìm như “Hiệp sĩ thông-hai-lá-dẹt”. Chúng mày có tin câu chuyện tao kể thì mai mình đi tìm cái thác ấy.
Họ chui vào túi ngủ. Anh chàng tóc dài lục đục mãi rồi chui ra, ngồi trên những bậc thềm rêu phủ nhìn lên đỉnh núi. Anh ta bỗng thấy trên lưng ngựa một bóng người, một cô gái tóc như dải mây, rực sáng như ánh trăng. Anh ta chạy bổ vào gọi bạn.
- Mau ra coi! Trên lưng ngựa có người!
Họ chạy ra. Núi hiện ra trong mù, cô đơn và bí ẩn nhưng trên lưng ngựa chỉ có làn mây trắng.
- Đồ xạo!
- Rõ ràng tao mới thấy mà! Hay đây là... ngọn núi ảo ảnh?
Quế Hương
_________________
Về Đầu Trang
Xem lý lịch thành viên Gởi tin nhắn Gởi email Yahoo Messenger
thien_than_nho_be



Ngày tham gia: 04 2 2006
Bài gởi: 50
Đến từ: germany

Bài gởiGởi bởi: Bảy 2 04, 2006 3:16 am    Tiêu đề:

Bà mụ của búp bê

Tiếng khóa cổng lách cách, tiếng xe nổ. Tiếng càu nhàu của con dâu ông. Ðó là những âm thanh cuối cùng mà ông lão đợi - ông biết chúng đã đi làm, hai con bé đã đi học mà bây giờ ông và con Lỡ sẽ tự do trong ngôi nhà vắng lặng.
Ông chui ra khỏi cái hộp của ông, một cái buồng nham nhở, hai mặt tựa vào hông tường và bếp, một mặt che tấm ván ép, một mặt trống hoác làm cửa ra vào. Ông đã quen đổi chỗ từ hai mươi năm nay, khi con ông trở thành chủ nhân trong ngôi nhà của cha mình. Từ lầu đến trệt, từ phòng trước đến phòng sau, từ phòng rộng đến phòng hẹp và bây giờ kề bên bếp. Lần này thì chính ông đề nghị: "Bây để tau xuống nhà sau ngủ. Tau hay đi tiểu đêm mà cửa thì bây khóa...".
"Không khóa để ông đi ra, kẻ trộm đi vào à?". Con ông càu nhàu. Còn vợ nó thủng thỉnh: "Mùa hè, nằm đó khác chi hứng gió biển". Nằm đó là nằm ở khúc nhà ngang nối liền nhà trên với bếp. Ở đó có mái nhưng tường không che chắn kín đáo như nhà trên. Thồng lộng. Con ông che tạm cho ông cái buồng này và bảo: "Rồi thư thư... con xây thành phòng". Tối đến khi cánh cửa thông đã khép, cắt ông với thế giới "trên nhà", ông thấy dễ chịu khi được một mình với yên tĩnh và bóng tối. Ông có thể ngắm cả mảng trời sao nhấp nhánh. Cả vầng trăng viên mãn tròn đầy. Cả lúc trăng mỏi. Cả những bóng cây vật vã vào nhau trong đêm mưa gió. Cũng còn dễ chịu hơn rón rén đái vào bô, từng tí, từng tí để tiếng nước tiểu không làm con dâu thức giấc, còn hơn níu tiếng đằng hắng cứ chực vọt ra khỏi họng. Ở đây, ông có thể tự do đi lại, uống nước khi không ngủ được. Người già uống nhiều hơn ăn, ông có thể uống trà trừ bữa. Nhắc trà ông lại nhớ chén - cái chén sứ men lam bắt tuấn mã ông thường dùng nay đã cất trong tủ buýp-phê trên nhà. Ông có thói quen vừa uống trà vừa ngắm cái vẻ dữ dằn tuấn vĩ của tám con ngựa ở tám tư thế khác nhau. Nét vẽ sống động bằng màu xanh đậm mà vẫn trong như ngọc bích. Men trắng xanh lơ quý phái. Trà sóng sánh vàng bốc khói, tám con ngựa oai phong lẫm liệt. Uống trà trong chén ấy mới tuyệt làm sao! Nhưng chúng nói phải. Chén quá quý mà tay mình thì run - vỡ uổng lắm. Ðể còn mà ngắm - ông lão lại chép chép miệng móm mém rồi đi tìm con Lỡ. Nó đang kéo lê đôi chân cong vòng, nhỏ như cây sậy đi tìm ông. Nó ngủ trên kia nhưng khi cả nhà đi hết, nó lại được thả xuống cho ông. Con và dâu ông mắc một chứng bệnh kỳ dị - bệnh sạch. Ði làm về là chúng dọn dẹp lau chùi cho đến khi bóng như lau như li. Ðồ không dám dùng. Ngồi không dám dựa. Con cái không được chơi làm bẩn đồ đạc bóng lộn. Chúng làm lụng cực nhọc nhưng chúng không thuê người giúp việc vì sợ thêm người thêm bẩn. Vả lại đời nay biết đâu mà tin.
Con Lỡ toét miệng cười với ông. Ông đến bế nó. Ngó nó lết mà thương. Nhưng ông không bế nổi con bé. Hai ông cháu lảo đảo. Ông ngồi chỗm hỗm cho nó bá cổ. Con Lỡ nằm bẹp trên lưng ông và hai ông cháu đi đến chỗ để thức ăn. Con Lỡ vừa ăn vừa "khóc" như mọi khi. Cũng như mọi khi, nó vừa ăn vừa đút cho con búp bê trụi tóc, gãy tay của nó. Cha mẹ nó chẳng chờ đợi nó ở ngôi nhà này. Họ đợi một đứa con trai. Mẹ nó đã quay lưng khóc khi cô đỡ chìa ra một cô bé gái nhăn nheo, đau khổ như một bà cụ. Ðứa con gái thứ ba! Lại xấu xí! Lại gầy gò vì thiếu cân, thiếu tháng! Lại bị què sau trận sốt tê liệt khi lên hai!. Ðôi lúc người mẹ cũng ăn năn. Giá chăm chút nó như hai đứa trước, uống, tiêm phòng đầy đủ. Thôi thì lỡ rồi. Lỡ sinh. Lỡ quên. Người ta gọi nó luôn là con Lỡ. Nó lại bị cái gì đó ở tuyến lệ nữa. Nước mắt cứ ri rỉ ngay cả khi nó cười. Trong ngôi nhà sạch bóng, tươm tất này, nó và ông thật lạc điệu - xấu xí, vô dụng - ông đọc điều đó trong cái nhìn. Ăn xong, hai ông cháu ngồi chơi trên chiếc ghế mây dưới bóng cây. Một già một trẻ có thể ngồi đó suốt buổi cho đến khi có tiếng khóa lách cách trở lại. Con Lỡ lắng nghe ông nói, không hiểu, không khen chê nhưng vẫn nghe. Nó thường bắt lấy chữ cuối của ông làm chữ đầu của nó. Tuổi tác có ý nghĩa gì khi mọi sự đều trở về. Tóc trở màu, con người lại bắt đầu như một đứa trẻ, yếu đuối, bất lực, sợ hãi, ngây thơ. Thường ông kể chuyện cho nó nghe, chuyện đời, chuyện xưa nay, bày cho nó đếm, nó đọc. Còn nó bày cho ông bán hàng bằng lá, chơi búp bê. Sáng nay mặt con Lỡ đầy vẻ nghiêm trọng. Nó cứ nhìn chăm chăm con búp bê cũ kỹ hai đời chị quẳng lại cho nó và bảo ông:
- Sáng nay con búp bê sẽ đẻ con.
- Sao cháu biết?
- Nó nói.
- Nó nói sao?
- Nó nói nó đau bụng. Con nó ở chật bụng nó.
Ông lắc đầu. Bao giờ con bé cũng ao ước con búp bê đẻ. Mẹ nó biết đẻ. Con mèo biết đẻ thì tại sao con búp bê không đẻ? Nó sẽ đẻ một con búp bê tóc vàng, má hồng và lành lặn. Ðôi khi cả một bầy búp bê cũng có!
Giá mình có thể "đẻ" cho nó một con thế nhỉ! Ông lão lẩn thẩn nghĩ. Tia mắt già nua đậu trên con bé Lỡ. Ðậu trên những chiếc lá vàng nâu nằm uể oải trên mặt đất.
- Ông thấy không? Con Lỡ lắc tay ông - Bụng con búp bê sáng nay bự chác. Nó đựng đầy con. Nhưng con nó làm sao ra được?
- Thì... thì... cũng như bà cho ra ba cháu. Mẹ cháu cho ra cháu. Có một bà tiên người ta gọi là bà mụ. - Thế bà mụ của búp bê đâu?
- Cháu đấy!
- Cháu không biết làm bà mụ. Bà mụ phải làm gì?
- Gối lên chân ông ngủ và đợi.
- Không, cháu không ngủ. Con bé lắc đầu quầy quậy.
Ông nhớ lại lúc con mèo mun đẻ. Con bé đã ngồi bên nó suốt buổi để đợi xem em-bé-mèo.
- Cháu không ngủ. Con bé lập lại, nhìn ông bướng bỉnh. Chính lúc ấy ông mới thấy mắt con bé đẹp vô cùng - trong như nước hồ thu, ươn ướt. "Giống hệt mắt bà ấy" - Ông lão thì thầm.
- Bà ấy nào?
- Bà cháu.
Rồi ông lão nhìn đăm đăm vào khoảng trống trước mặt, dường như bà hiện ra ở đó, mãi mãi ở tuổi thanh xuân với những dải nước màu đen sóng sánh, đôi mắt trong ngần, đôi má vàng óng nắng, phơn phớn lông tơ.
- Này ông! Sao con búp bê lâu đẻ thế?
Bóng bà tan biến. Con Lỡ nhìn ông chăm chú
- Ơ! Mắt ông cũng có nước. Mặt ông lại nhăn thêm nữa. Một, hai, ba, mười, mười lăm... Nhiều quá. Chẳng ai nhiều như ông, đếm bắt mệt!
- Tại năm tháng đó cháu. Năm tháng đi qua để lại dấu vết. Ông đã sống nhiều năm tháng quá rồi!
Và bà lại hiện ra, một bà lão khô héo, cái lưng nằm mãi vì bệnh đến lở lói. Khuôn miệng cay đắng thốt những lời cay nghiệt. Ðôi mắt mờ đục chất ngất mệt mỏi.
- Thế ông cất năm tháng của ông đó à? Khi hết chỗ ông sẽ cất ở đâu?
- Khi đó ông chết.
- Ðừng... cháu sẽ chơi với ai? Miệng con bé méo xệch - ông đừng chết. Cháu sẽ cất giùm ông nếu ông hết chỗ. Ông đừng chết!
- Chưa chết đâu! Con búp bê gọi cháu kìa!
Con bé lại quên ông. Nó quay qua con búp bê mất tay
- Này đau bụng hả? Mày đẻ con thôi. Mày đẻ một con búp bê tóc vàng đẹp như công chúa, không trụi tóc, không gãy tay. Con mày sẽ đẹp dùm mày.
Con-mày-sẽ-đẹp-dùm-mày. Chao ôi! Con Lỡ nói một câu hay quá. Ông nhìn cháu ngạc nhiên. Ông nhìn hai cẳng chân cong vòng, nhìn thân hình èo uột, mái tóc lơ thơ và chợt nhận ra nó không ngô nghê như hai chị nó, rằng ông quá hoài phí năm tháng để hiểu điều này. Trong bản chất mỗi con người, mỗi sự vật, có cái người ta không thể học được. Ôi con Lỡ của ông! Từ khi bà mất, lòng ông nguội lạnh. Chính con bé què quặt ốm yếu này đã hâm nóng nó lại. "Ai mạc ư tâm tử". Mọi sự đau xót không gì bằng nguội lạnh con tim. Thật đúng!
- Ðúng là con búp bê sắp đẻ phải không ông?
- Ừ.
- Nhưng lâu quá! Con bé rên lên nhìn ông nôn nóng.
Con-nó-làm-đẹp-cho-nó. Con người được cứu vãn nhờ sự tái sinh. Ông không thể dập tắt niềm tin ấy của con Lỡ. Ông lão trầm ngâm suy nghĩ rồi đứng phắt dậy.
- Nó sẽ đẻ! Ông lão dõng dạc tuyên bố. Có điều cháu phải kiên nhẫn chờ. Ông đi mời bà mụ đây. Cháu sẽ giúp ông bằng cách ngồi yên trên ghế, không được rời con búp bê.
- Mau lên ông! Cháu sẽ ngồi yên mà! Con bé rối rít giục. Ông lão tất tả ra cổng rồi đột nhiên ông khựng lại, quay lui. Cả hai ông cháu tuyệt vọng nhìn cái ổ khoá cổng to tướng. Con Lỡ bắt đầu thút thít.
- Ðừng khóc! Ông có cách rồi.
Ông đi tìm cái ghế cao con ông vẫn dùng để tỉa hoa giấy. Nó được dựng gần tường. Ông kéo nó sát hàng rào, vụng về, khó nhọc. Ông dặn con Lỡ lần cuối trước khi leo lên:
- Nhớ ngồi yên. Ðừng tụt xuống té nghe!
- Dạ! Ði nhanh ông nghe!
Ông già bắt đầu trèo lên chiếc ghế cao. Chân ông run run, lóng nga lóng ngóng nhưng lòng ông rạo rực. Thằng bé nghịch ngợm trong ông hồi sinh - cái thằng cu Ðen thề không đặt chân xuống đất khi ở nhà một mình. Nó chỉ nhảy từ bàn qua ghế, từ ghế qua giường... Ông ngồi trên bờ tường nhìn xuống đường. Bây giờ ông phải xuống đó không có ghế. Ông bấu tay vào gờ tường và tụt xuống. Cứ nghĩ mình đi ngược lại. Ông vừa tụt xuống vừa lẩm bẩm và niềm vui lẫn sợ của thằng cu Ðen trèo tường đi chơi cứ làm tim ông đập thình thịch. Thời gian không thực có. Nhảy đi, cu Ðen! Nửa thước chứ mấy. Ông lão nhảy. Thằng cu Ðen táo tợn vỗ tay. Còn ông lão đau quá, khuỵu xuống. Ông nhăn mặt nhưng sực nhớ con Lỡ, ông đứng dậy, ông vịn tường bước khập khiễng. Ðể đỡ đau, ông tụt dép cầm tay. Có năm năm rồi ông không ra đường. Phố xá bây giờ lạ quá. Ông lại là đứa con nít sợ lạc trước dòng người và xe cộ nườm nượp.
"Này nằm yên đó. Ông sẽ về bây giờ với bà mụ và mày sẽ hết đau bụng, sẽ đẻ cho tau một con búp bê tóc vàng, lành lặn - con Lỡ thầm thì. Nó cảm thấy buồn đái, nhưng nó nhớ lời ông dặn không được rời con búp bê, không được tụt xuống té. Mày cũng khó chịu thế chứ gì. Như tau buồn đái thế thôi". Con bé ôm bụng nhăn nhó. Con búp bê mở to đôi mắt biếc có hàng mi cong vút nhìn trời. "Chịu khó đi rồi con mày sẽ làm đẹp cho mày. Con mày sẽ không rụng tóc và gãy tay như mày. Con tau... không biết rồi con tau có làm đẹp cho tau không? Chân tau không như mọi người. Tau không làm đẹp cho mẹ và mẹ không thương tau!" Con bé thở dài. Hoa nắng bắt đầu nhảy nhót trên áo nó. Con búp bê nhắm mắt ngủ. Con bé cũng thiu thiu.
Khi con Lỡ mở mắt, điều kỳ diệu đã xảy ra. Ông nó ngồi cạnh nó. Con búp bê tóc vàng, má hồng nằm cạnh con búp bê trụi tóc, cụt tay. Còn nó, nó nằm trên vũng nước tiểu.
- Ôi! Nó đẻ rồi! Thế bà mụ đâu! Cháu muốn cảm ơn bà.
- Bà mụ đi rồi. Bà còn phải vội đi đỡ đẻ cho con búp bê khác.
- Sao ông không thức cháu?
- Rồi nó nhìn cái quần ướt sũng, bẽn lẽn: - Cháu không định tè trong quần, nhưng...
Ông vừa nhăn nhó vừa cười. Nom ông là lạ. Nửa như nó, nửa như ông.
Ông lão ngồi thở, ông còn mệt và còn đau chân lắm; khó lòng tưởng tượng những gì ông đã làm sáng nay. Nó cũng kỳ diệu và khó nhọc như con-búp-bê-đẻ-con vậy.
Con Lỡ nhìn sững con búp bê tóc vàng. Nó đẹp dễ sợ. Nó không như con mèo mới đẻ, lông bết dính và mắt nhắm tít. "Mày thích lắm nhỉ - Bây giờ mình có ba người - Ban ngày thêm ông là bốn. Tau sẽ giấu mày trong chăn - Chị tau mà thấy họ không để yên cho mày đâu".
Ðêm đó ông lão không ngủ được, ông gác hai cẳng chân đau nhức, mỏi nhừ lên thành giường. Ông đã đi bộ đến mấy con đường với cái chân đau. Chính thằng cu Ðen táo tợn, bướng bỉnh ấy kéo ông đi tới cửa hàng búp bê. Ông thò tay vào ngực - Bà vẫn nằm yên trong đó, gối đầu lên ngực ông. Chỉ có khác là bức chân dung hồi trẻ của bà lồng trong trái tim bằng ngọc bây giờ không được treo sợi dây chuyền vàng nữa - nó được thay bằng một sợi dây rút từ bao xi măng. Trong bóng tối đôi mắt đẹp như mắt con Lỡ nhìn ông cười có đuôi. Con Lỡ chắc ngủ ngon sau khi trò chuyện với lũ búp bê. Ông mơ màng thấy thằng cu Ðen kéo một toa tàu, một ông lão cà nhắc, một con bé cà thọt và một bà lão muôn thuở tuổi đôi mươi.
Trên nhà, con Lỡ ôm hai con búp bê ngủ. Nó mơ nó đẻ con. Ðẻ ra một con Lỡ con lành lặn, đôi chân tròn trĩnh xinh đẹp lộ trong chiếc áo đầm voan trắng. Con Lỡ con đẹp giùm mình. Mặc áo đầm giùm mình. Con bé ngủ thiếp với ý tưởng đó. Còn con búp bê trơ trụi tóc, gãy tay thì không ngủ. Nó thao thức nghĩ đến bà mụ của mình.
_________________
Về Đầu Trang
Xem lý lịch thành viên Gởi tin nhắn Gởi email Yahoo Messenger
thien_than_nho_be



Ngày tham gia: 04 2 2006
Bài gởi: 50
Đến từ: germany

Bài gởiGởi bởi: Bảy 2 04, 2006 3:16 am    Tiêu đề:

"Bàn Tơ động" của tôi

1. Siêu thị sách là một gian nhà khá rộng. Ở đây bán đủ các loại sách, phục vụ mọi đối tượng có nhu cầu về văn hóa đọc. Trông coi siêu thị sách là một phụ nữ tầm thước. Nhìn dáng chị nâng niu, chăm sóc sách trong các buổi sáng, người ta liên tưởng đến hình ảnh một phụ nữ đảm đang trong các gia đình hạnh phúc.
Chị Đông đảm đang thật sự. Với một nhà sách mà nhân viên đều là nữ, người cửa hàng trưởng không đảm đang, không khéo phân xử thì không dễ gì tạo một cảm giác ấm cúng và thân thiện như vậy. Tôi là một người ham đọc sách nên thường xuyên đến siêu thị này tìm mua sách. Đồng thời tôi đến để đắm mình vào một không gian hơi có chút lãng mạn với tiếng nhạc êm dịu được điều chỉnh âm thanh vừa phải, lời giới thiệu sâu lắng của chị Đông về các cuốn sách mới, nụ cười của các cô bán hàng, nhất là của Thu Dung, một nữ thu ngân khả ái. Vì vậy sáng thứ bảy nào tôi cũng ra siêu thị sách để tìm cho mình một cách giải trí... sang trọng. Nhưng cách giải trí này quả là tốn kém so với đồng lương một công chức trung bình như tôi. Tôi mua sách bằng những khoản thu nhập ngoài lương, mà loại thu nhập này thì bấp bênh và không thường xuyên. Chị Đông cất những cuốn sách mà tôi ao ước khi chưa đủ tiền mua vào một nơi nào đó và bất ngờ đưa ra cho tôi với một nụ cười không ai nỡ từ chối. Hình như chị biết lúc nào tôi có tiền thì phải. Còn tôi, tôi ái ngại vì biết chị được khoán quỹ lương, không hiểu những cuốn sách chị cất riêng để dành cho tôi có ảnh hưởng đến thu nhập của các chị hay không?
Cứ tưởng cuộc đời sẽ êm trôi trong cái thế giới sách của các chị và niềm đam mê của tôi. Nhưng không phải như vậy. Bất ngờ tôi trở thành cấp trên của chị Đông và các cô bán sách. Số là công ty tôi và công ty sách hợp nhất làm một để tăng tính cạnh tranh, tăng khả năng chiếm lĩnh thị trường. Trong cơ cấu mới của công ty, tôi được phân công phụ trách mảng kinh doanh, trong đó có siêu thị sách của chị Đông. Đúng là chưa bao giờ tôi nghĩ mình phải làm việc này để chuẩn bị cho mình một tư thế phù hợp. Tôi hơi bị hẫng trong công việc mới và mọi việc tôi đều trông cậy vào chị Đông. Trước kia tôi làm việc trong môi trường mà đàn ông nhiều hơn đàn bà, những trận nhậu với anh em chiến hữu, những lời văng tục của cánh đàn ông... là những điều bình thường. Nhưng bây giờ thì không phải vậy, các nhân viên nữ ở nhà sách bao giờ cũng mặc áo dài, lúc nào cũng lịch sự như... phim, khiến tôi có chút bỡ ngỡ. Có người nói rằng tôi ví như Đường Tăng lọt vào Bàn Tơ động. Đường Tăng nhờ định lực của Phật pháp vô biên mới vượt qua được cạm bẫy của những con "nhền nhện", còn tôi với tấm thân phàm tục liệu có lọt vào lưới... tình? Tôi chỉ biết cười trừ chứ biết nói sao? Trong cái thế giới đàn bà ở siêu thị sách, mình tôi là đàn ông, mà lại là người cấp trên của những bông hoa, tôi thường có cảm giác một mình tôi đối nghịch với phần còn lại của thế giới đàn bà. Nhưng những nụ cười của các nhân viên nữ mỗi sáng, mỗi trưa khiến cảm giác bất an trong tôi tiêu tan lúc nào không rõ. Đàn bà chinh phục đàn ông bằng những nụ cười, điều đó hình như đã trở thành quy luật. Tôi đã bị những nụ cười của các cô gái có chồng và chưa chồng thu phục!
Nhi là người gây ấn tượng nhất trong tôi. Nhi trang điểm rất sơ sài, thậm chí hầu như không trang điểm khi đi làm. Trong một lần họp cửa hàng, tôi đã nửa đùa nửa thật phê bình các nhân viên nữ không chịu trang điểm. Mặt Nhi hơi khó chịu khi tôi nhắc đến điều đó. Tôi thấy mặt Nhi hơi tai tái và bỗng dưng trong tôi một cảm giác áy náy xuất hiện. Tôi nói sai rồi sao? Phải chăng tự do của mỗi người đã không được tôi tôn trọng? Nhưng tôi nói với một ý tốt chứ có xúc xiểm ai đâu? Tôi chột dạ và chuyển qua đề tài khác không nhắc đến chuyện ấy nữa. Vậy mà trong một chiều mưa, khi trò chuyện với Nhi, Nhi nhắc lại chuyện ấy. Trời mưa dầm dai dẳng, siêu thị vắng khách, tôi nhìn trời và hỏi Nhi:
- Mưa buồn nẫu ruột, Nhi có thấy buồn không?
- Dạ có, em không thích trời mưa, trời mưa khiến em nhớ...
Tôi ngạc nhiên:
- Nhi nhớ ai?
- Không có gì đâu anh, trời mưa em buồn vậy mà.
Đôi mắt Nhi như có nước mắt, tôi nhìn vào đó và bắt gặp một nỗi niềm khó tả. Nhi nói tiếp với tôi:
- Hôm trước anh phê bình em không chịu trang điểm khi đi làm phải không?
Tôi chống chế:
- Thì tôi nói chung chung vậy thôi, đàn bà có chút son phấn càng tôn vẻ đẹp của mình lên chứ sao?
- Em cũng thích trang điểm lắm chứ, nhưng em không bao giờ trang điểm nữa đâu anh ạ, bởi vì đã có lúc em quá dại để mà ân hận suốt đời.
Tôi thật sự ngạc nhiên về những lời tâm sự của Nhi. Người chồng Nhi đang sống hiện nay là người chồng thứ hai. "Số em thầy bói nói là hồng nhan đa truân. Em lấy chồng sớm lắm, mười tám tuổi đã bước lên xe hoa về nhà chồng. Chồng em hơn em mười hai tuổi, lập công ty xây dựng riêng. Em quen ảnh trong dịp ảnh thầu xây dựng nhà cho cậu em. Quen nhau ba tháng thì cưới. Lúc ấy em còn trẻ con lắm, thấy má khen thằng Toàn chịu khó làm ăn, đứa nào lấy nó sẽ sướng tấm thân, em nhìn ảnh cũng đẹp trai, em ưng thầm trong bụng. Trong tiệc liên hoan mừng nhà mới của cậu em, Toàn mời em đi uống cà phê. Đêm đó ảnh cầm tay em và nói yêu em, em chỉ cười không trả lời. Vậy mà một tháng sau tụi em làm đám cưới. Tụi em sống với nhau đúng một năm mười hai ngày, chưa kịp có con...". Giọng Nhi trầm hẳn xuống và bất ngờ Nhi khóc. Tôi bối rối, không nghĩ mình rơi vào một tình thế như vậy. "Em thường nghe nói các ông xây dựng hay đi hát karaoke... ôm. Người ta thêu dệt đủ điều về những cô gái trong các tiệm này, em không kể ra nhưng chắc anh hiểu. Trong bụng em cũng có hơi ngờ vực, em gặng hỏi thì ảnh trả lời rằng không có chuyện ấy đâu rồi lảng qua chuyện khác. Điều đó càng khiến em nghi ngờ hơn nữa. Em nghĩ ra một trò tinh nghịch. Hôm ấy ảnh đi nhậu về, trong khi ảnh tắm em áp môi son mình vào vai áo ảnh, một vết môi son lờ mờ hiện ra. Ảnh từ phòng tắm bước ra tươi cười nhìn em, miệng định nói với em điều gì đó. Em làm mặt giận rồi chỉ vết son trên áo, không nói gì cả. Đang cười mặt ảnh bỗng cứng đơ như hóa đá. Bất thần ảnh hét lớn "mấy thằng khốn nạn" rồi lấy áo khoác vội vào người, lấy xe chạy đi. Lúc ấy em sợ điếng người vì tiếng hét của ảnh. Lúc em bình tĩnh trở lại thì ảnh đã đi xa rồi, đêm ấy ảnh không về. Mãi mãi không về. Ảnh chết vì tai nạn giao thông". Ngừng một hồi lâu, Nhi kể tiếp: “Em không kể những ngày sau đó em sống như thế nào, nhưng đó là những ngày đau khổ nhất đời em. Em chỉ muốn chết để chuộc lại lỗi lầm của mình. Mọi người xúm lại khuyên nhủ em, trong đó có người bạn thân của ảnh, anh Sinh. Năm năm sau em và Sinh cưới nhau sau biết bao trắc trở, nhưng suốt đời em không thể nào quên được Toàn. Bây giờ thì anh đã hiểu vì sao em không trang điểm rồi chứ?".
Tôi thở dài nói:
- Tôi xin lỗi Nhi, không ngờ chuyện của Nhi buồn quá, nhưng tại sao Nhi lại kể cho tôi chuyện này?
- Em cũng không hiểu, có lẽ do trời mưa, hôm ấy trời mưa dầm rả rích.
Nhi nín bặt, mắt Nhi nhìn ra ngoài trời và hầu như quên bẵng tôi. Dòng nước mắt chưa kịp lau của Nhi hằn rõ trên khuôn mặt mịn màng. Kệ sách văn học trong nước có tập truyện Khi người đàn bà khóc, tôi chưa kịp đọc, không biết trong đó người đàn bà có khóc giống như Nhi không ?
2. Không như Nhi, Khánh là một thiếu nữ chưa chồng. Em mới hai mươi ba tuổi và vào làm việc ở siêu thị mới có hai năm. Nước da con gái trắng hồng của Khánh có lẽ làm ngây ngất bao chàng trai. Nhưng rất tiếc trong cửa hàng sách không có chàng trai nào chưa vợ để tôi xem thử người trẻ tán tỉnh nhau, yêu nhau như thế nào? Lạy Chúa, nếu tôi còn là trai chưa vợ, nhất định tôi phải tấn công Khánh cho bằng được. Khánh nói với tôi:
- Hôm nào chú chở thím xuống cửa hàng chơi để tụi con biết mặt, con nghe nói thím đẹp lắm phải không chú ?
Tôi nhăn mặt:
- Sao Khánh không gọi là cô mà kêu bằng thím nghe già và... nghe sao sao ấy!
Tôi định nói nghe già và quê quá, nhưng tôi ngừng lại kịp bởi vì tôi biết nhà Khánh ở một vùng quê. Khánh như không nhận ra chỗ gượng gạo của tôi, em tiếp tục:
- Dạ con gọi vậy quen rồi, ở nhà con sống với chú thím là chính mà. Hồi nhỏ ba con đi hoài, không biết đi những đâu, mỗi năm con gặp ba có một hai lần à! - Giọng em trầm hẳn xuống nghe như có chút nước mắt trong tiếng à thật dễ thương và tội nghiệp. Tôi hỏi:
- Vậy mẹ Khánh đâu?
Khánh buồn hẳn, em không giấu nỗi buồn của mình, lấy khăn tay chậm hai giọt nước mắt vừa ứa ra rồi nói:
- Năm con hai mươi tuổi, chú thím Ba mới nói cho con biết là ba con đi tìm mẹ con từ hồi con ba tuổi. Đó là một chuyện buồn chú à, con không hiểu người lớn nghĩ sao mà lại làm những chuyện con không thể chịu được!
Tôi sửng sốt. Tôi cũng là một "người lớn", không hiểu mình có làm điều gì phật ý Khánh không? Nhưng hình như Khánh không để ý đến chuyện đó, em nói với tôi như nói với một người bạn, điều đó cũng có một chút an ủi trong tôi. Khánh tiếp tục:
- Mẹ con bỏ nhà đi lúc con hai tuổi. Khi con lên ba, đến lượt ba giao con cho chú thím rồi đi tìm mẹ con. Chú biết sao không, trước khi mẹ con "mất tích", có một gánh cải lương đến xã con hát. Gánh hát diễn ba đêm rồi dọn đi, mẹ con cũng biến luôn từ đó. Con nghe kể lại ban đầu ba con cũng giận ghê lắm, ba thề là sẽ không bao giờ đi tìm mẹ con, ba sẽ ở vậy nuôi con. Nhưng một năm sau không hiểu sao ông lại đổi ý. Ba nhờ chú thím nuôi dạy con, ba lên đường tìm mẹ. Có lẽ ba yêu mẹ, ba không thể sống thiếu mẹ hay sao con cũng không biết. Ba làm đủ nghề để có tiền đi tìm mẹ. Từ bán vé số đến phụ hồ, làm mướn..., hễ nghe nơi nào có gánh hát là ba tìm đến. Ba con trở thành một kẻ giang hồ chính hiệu, thỉnh thoảng mới ghé về thăm con ít bữa rồi lại lên đường. Chú con nói số ba con đóng ở cung thiên di nên phải trôi dạt gần hết cuộc đời.
Khánh im lặng một lúc lâu, mắt em nhìn nơi xa thẳm nào đó, hình như đang chìm trong quá khứ với những kỷ niệm buồn. Tôi sốt ruột nhưng đành bấm bụng chờ, nhưng chờ mãi không thấy Khánh tiếp tục kể, tôi đành phải hỏi:
- Sau đó rồi sao, ba có tìm thấy mẹ không?
- Dạ có, nhưng phải tới mười ba năm sau, lúc đó con mười sáu tuổi. Con nghe thím Ba kể lại, ba con tìm mẹ con để xem người kép hát đó có điều gì hơn ba con mà mẹ con lại mê đến nỗi phải cả đời phiêu bạt. Nhưng khi gặp được rồi ba con lại thất vọng. Người nghệ sĩ khi bắt đầu ở tuổi xế chiều trong đời thường buồn lắm, thím Ba nói vậy. Ba con nói đó là một thằng cù bơ cù bất, không đáng để ba con bận tâm. Nhưng thím Ba con nói ảo tưởng trong mẹ con thì quá lớn về chàng kép hát của mình. Trước khi mẹ con lấy ba con, có một năm gánh hát về xã diễn, mẹ con đã thề non hẹn biển với ông ấy. Nhưng mãi năm năm sau ông ta mới trở lại, lúc ấy con vừa được hai tuổi... Chú ơi, bây giờ thì mẹ con không có đường về nữa rồi, chắc mẹ con mãi mãi là người nấu cơm vô danh trong một gánh hát cũng vô danh. Con không nhớ mặt mẹ con, nhưng con cũng không muốn biết người đàn bà ấy. Đối với con, từ thím nghe thân thương hơn, thím Ba nuôi con từ nhỏ mà. Bây giờ chú còn muốn con gọi thím ở nhà là cô nữa không?
Em nhìn vào mắt tôi, tôi cũng nhìn vào mắt em, đáy mắt em trong xanh không một chút vẩn đục. Tôi những muốn ôm em vào lòng để vỗ về an ủi em nhưng không dám, chỉ còn cách bóp nhẹ bàn tay búp măng của Khánh để chia sẻ một cảnh đời. Tôi cảm động đến ứa nước mắt. Tiếng Khánh văng vẳng bên tai tôi:
- Ba con còn giấu con một chuyện gì nữa đó chú à. Ba không muốn cho con biết.
Tôi hỏi Khánh:
- Sau đó rồi sao nữa?
- Ba con bỏ gánh hát ra về lúc nửa đêm. Hình như mẹ con có đưa ba ra bến xe. Đến nhà chú thím Ba, ba con nói chuyện với chú thím lâu lắm rồi ba con lại lên đường sau khi thở dài nhìn con và khóc. Lần này ba con không đi tìm mẹ nữa, ba đi tu ở một ngôi chùa tận Vũng Tàu. Bây giờ ba đã là Đại Đức.
3. Nhà Đông thì khỏi phải chê, đó là một ngôi nhà hạnh phúc. Anh Chánh chồng Đông còn "đảm đang" hơn cả vợ. Cháu Trung là một học sinh ngoan và học giỏi, cháu chuẩn bị thi vào Trường Đại học Bách khoa, khoa Công nghệ thông tin. Tôi tin cháu sẽ đậu vào trường này. Hôm tôi đến nhà theo lời mời của vợ chồng Đông, nhìn những món ăn được dọn trên bàn, tôi thấy những món này y như hiện ra từ trong sách dưới bàn tay phù thủy của Đông. Mới chỉ ăn bằng mắt, tôi đã thấy bụng dạ mình bay bổng đến chín từng mây ! Cũng cần nói thêm rằng Đông thua tuổi tôi, đủ để tôi gọi bằng cô, từ chị đã lui về ngày xưa... xa lắc.
4. Đông nói:
- Tụi nó trông thế mà hợp với nhau, hình như trong đời những người có những cảnh ngộ đau khổ na ná như nhau thường tìm đến nhau thì phải ?
Tôi hỏi:
- Bao giờ thì đám cưới?
- Tuần sau, thứ bảy, anh chưa nhận được thiệp mời à?
- Nhận rồi nhưng chưa kịp đọc.
Đông nhìn tôi rồi tiếp:
- Con bé định nhờ anh đại diện họ nhà gái, hình như mai nó đưa chú Ba nó lên nhà anh thì phải.
Tôi im lặng. Khánh có chồng! Tôi mừng cho cuộc nhân duyên của Khánh. Khánh lấy em trai Sinh. Khánh và Nhi trở thành chị em bạn dâu, tình thân của họ rồi sẽ thân hơn. Tôi tin là thế!
Đám cưới Khánh diễn ra theo đúng kịch bản, vui, đẹp, cô dâu Khánh xúng xính áo váy bên chú rể Thành trông đẹp đôi lắm. Tôi tin là Khánh sẽ có hạnh phúc khi nhìn Khánh cười và hướng trọn vẹn nụ cười đó cho Thành. Tôi không dự tiệc ở sảnh lớn, tôi bận tiếp vị Đại Đức ba Khánh trong căn phòng nhỏ của nhà hàng. Nhìn nhà tu hành, tôi không tưởng được ông đã trải qua một đoạn đời giông bão. Mặt ông bình yên như mặt nước hồ thu. Nhìn ông trầm mặc tôi tin tâm hồn ông đã thật sự bình an.
Trước khi ra về, vị Đại Đức gọi vợ chồng Khánh vào căn phòng nhỏ, ông nói:
- Ta không dặn các con điều gì cả, chú thím Ba đã thay ta dạy con từ thuở ấu thơ, ta biết ơn chú thím. Trước khi ra về, ta trao lại cho các con kỷ vật của bà nội con, ta đã lấy lại từ tay mẹ con trong ngày ấy. Mô Phật, con hãy đem vật này tìm đến mẹ con và nói rằng ta đã tha thứ cho bà ấy. Ta muốn các con cũng tha thứ cho lỗi lầm của mẹ con, con phải có mẹ, phải nhận mẹ để an ủi bà ấy lúc xế chiều. Đức Phật dạy rằng "bể khổ mênh mông hồi đầu thị ngạn".
Nhà tu hành để chiếc dây chuyền mặt ngọc vào tay con gái rồi nhẹ nhàng đi ra khỏi phòng. Trông dáng ông đi tôi bỗng thấy ông như một đám mây đang trôi về phía cuối trời.
Võ Anh Cương
_________________
Về Đầu Trang
Xem lý lịch thành viên Gởi tin nhắn Gởi email Yahoo Messenger
Trình bày bài viết theo thời gian:   
Gởi bài mới   Trả lời chủ đề nầy    Diễn Đàn MẪU TÂM -> GÓC ĐỌC & NGHE TRUYỆN ONLINE Thời gian được tính theo giờ Việt Nam PST (U.S./Canada)
Chuyển đến trang 1, 2, 3  Trang kế
Trang 1 trong tổng số 3 trang

 
Chuyển đến 
Bạn không có quyền gởi bài viết
Bạn không có quyền trả lời bài viết
Bạn không có quyền sửa chữa bài viết của bạn
Bạn không có quyền xóa bài viết của bạn
Bạn không có quyền tham gia bầu chọn
|   Register   |   Tin nhắn riêng   |   Đăng Nhập

Powered by -php_BB- Copyright © mautam.net, 2005. All Rights Reserved